Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Nghi lễ cúng tế giỗ ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát

Ngay từ thế kỷ 18 (1732) với Dinh Long Hồ, Vĩnh Long đã là một trong những trung tâm chính trị của chúa Nguyễn và cả thời Nguyễn sau này ở Nam Bộ. Bên cạnh một số di tích lịch sử văn hoá như Đình, Chùa, Miếu… hiện tại Vĩnh Long còn có một số quần thể lăng mộ cổ chứa đựng nhiều giá trị về kiến trúc nghệ thuật, giá trị lịch sử văn hoá gắn liền với thân thế và sự nghiệp của tiền nhân trong cuộc khai phá vùng đất Vĩnh Long nói riêng và vùng đất Nam Bộ Việt Nam nói chung. Trong đó có một lăng mộ của quan đại thần triều Nguyễn người Khmer – Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn  Văn Tồn.


Lăng Nguyễn Văn Tồn, còn gọi là Lăng Ông hay Lăng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, toạ độ địa lý: 90.58’.38” Vĩ độ Bắc; 1050.56’.23” Kinh độ Đông. Nằm trên địa phận Ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm TP Vĩnh Long khoảng 40km về hướng Đông Nam.

Nguyễn Văn Tồn được Đại Nam liệt truyện ghi chép như sau: Người phủ Trà Vinh nước Chân Lạp, nguyên làm nô trong cung cấm. Mùa xuân năm Giáp Thìn (1786), theo vua sang Vọng Các làm Cai Đội...Tồn khi trước tên là Duyên, không có họ, vì theo đuổi có công bèn cho họ và tên. Năm Gia Long thứ 1 (1802), thăng Cai Cơ. Sai Nguyễn Văn Tồn kiêm quản cả 2 phủ: Trà Vinh, Mân Thiết lệ thuộc vào Vĩnh Trấn...

Năm thứ 9, đổi đồn Xiêm binh làm đồn Uy Viễn, cho Tồn làm thống đồn, trông coi như cũ. Năm thứ 10, lại triệu vào kinh, thăng chức Thống chế, vẫn coi đồn Uy Viễn. Khi trở về cho 10 lạng vàng, 30 lạng bạc, 200 quan tiền, 1 bộ mũ áo đại triều, rồi sai đem 1.000 lính đồn đi đóng ở thành Nam Vang. Năm thứ 18, Nguyễn Văn Tồn đốc lính khơi sông Vĩnh Tế. Minh Mạng năm đầu (1820) thì chết, sai người tới dụ tế, cho cây gấm Trung Quốc, 20 tấm vải, 100 quan tiền, cấp cho 7 tên phu coi mộ. Năm thứ 8, con là Vỵ xin truy cấp cho sắc tặng, bèn được truy tặng làm Thống chế.

Khu lăng mộ của Nguyễn Văn Tồn nằm trên một khu đất có diện tích 8000m2, gồm nhiều công trình kiến trúc: hồ nước, nhà võ ca, nhà tiền tế, đền thờ và khu lăng mộ. Lăng mộ xây bằng hợp chất có bình đồ hình chữ nhật, kích thước dài 12,5m, rộng nhất 8,2m, được bao bọc bởi hệ thống tường thành cao dần từ ngoài vào trong (trung bình từ 0,6m đến 1m). Từ ngoài vào trong bắt đầu với cửa trước với 2 trụ biểu hình vuông (dạng đấu vuông thót đáy) trên có gắn tượng sư tử, kích thước 0,53mx0,53m, cao 1,2m chạy mở theo theo tường thành, vát góc ở hai đầu gấp khúc của tường, cửa trước mộ rộng 2,75m. Án ngữ cửa trước khu lăng mộ là một bình phong tiền ở giữa thụt sâu vào trong so với cửa mộ khoảng 0,5m, chừa lối đi mở sang hai bên vào sân tế, kích thước dài 2,43m; rộng 47cm, cao 1,65m. Sau bình phong tiền là khoảng sân tế, diện tích sâu 3,3m; rộng 6m. Tường thành ở khoảng giữa sân tế này có 2 trụ biểu nối với hai trụ biểu phía sau của phần tường trước mộ tạo thành một dạng bình phong thấp – dạng sập thờ tả hữu ở hai bên. Sau khoảng sân tế này là phần cửa mộ với hệ thống tường và 4 trụ biểu dàn ngang. Hai trụ biểu ở giữa mở ra cửa mộ rộng 2,3m; kích thước các trụ biểu này 0,5mx0,5m, cao 1,92m. Giữa các trụ biểu ở cửa mộ theo hàng ngang, trên tường thành có đắp hình mô hình dạng khám thờ cách điệu, trên nóc mô hình này có gắn tượng nghê men xanh, gốm Sài Gòn. Sau cửa mộ 1,2m là nấm mộ (mui luyện) dạng song táng trên mộ tấm đan kích thước dài 3,6mx3,75m,  dạng hình chữ nhật giật cấp, mộ Nguyễn Văn Tồn bên trái (tả nam hữu nữ) cao hơn mộ phu nhân khoảng 0,1m. Cả hai nấm mộ đều có đúc sập thờ ở phía trước. Riêng nấm mộ của Nguyễn Văn Tồn, sau sập thờ đúc hộp bia mộ có dạng mô hình tam sơn, trong đó ở chính giữa đúc ô hộc hình chữ nhật tạo thành bia. Trên bia có khắc chìm chữ Hán với nội dung: “Dung Ngọc Hầu Tiền Quân Thống Chế Điều bát Tướng Quân Nguyễn Văn Tồn tướng quân chi mộ. Sanh ư thất lục tam niên (1763) tại Trà Vinh. Chung ư Canh Thìn niên chánh nguyệt sơ tứ nhật (ngày 4 tháng 1 năm 1820). Hai bên có dạng cách điệu của cuốn thư, trên đó đắp nổi hình hoa văn lá hoá rồng cách điệu và chữ Hán ở hai bên nội dung: “Hách hiển linh uy; Hương phi vô thần”. Sau nấm mộ 0,9m là tường hậu của khu lăng mộ cũng là một bình phong hậu được làm theo kiểu giả lợp ngói âm dương với các đao mái uốn cong cách điệu một số hình xi vĩ, đầu kìm, đặt trên dạng một sập thờ chân quỳ…mặt trước bình phong hậu có chia thành các ô hộc chìm, trên đó không còn dấu hiệu của chữ Hán hay đắp nổi trang trí như nhiều khu lăng mộ khác. Ngoài ra, ở một số đầu trụ biệu và các điểm tiếp xúc giữa trụ biểu với tường thành có đắp nổi một số hình dạng con cù, cá sấu (gần giống với kỳ đà)…Phía trong tường thành khu nấm mộ hai bên đều có 5 ô hộc đối xứng, trong đó đắp nổi hình hoa lá, giỏ trái cây, lư đỉnh, bình bông, đề tài khỉ…một số đã bị bong tróc không còn nhận diện được hình dáng nguyên thủy. Ở các trụ biểu của khu lăng mộ, trên một số mặt có các ô hộc trang trí hoa lá và câu đối…


Lăng Nguyễn Văn Tồn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.

Từ bố cục mặt bằng tổng thể, vật liệu kiến trúc hợp chất, các hình thức trang trí kiến trúc, thông tin trên bi ký cho thấy đây là một khu lăng mộ mang đặc trưng của các lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn ở Nam Bộ, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, có thể so sánh với một số lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn khác như: Lăng Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu, Phạm Quang Triệt, ...(Tp.Hồ Chí Minh); lăng Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Khắc Tuấn (Long An); lăng Trịnh Hoài Đức (Biên Hòa); Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang)…

Đặc biệt, khu lăng mộ gắn liền với danh nhân Nguyễn Văn Tồn – một người Khmer ở Nam Bộ được triều đình Nguyễn trọng dụng và đã có công lao lớn trong việc khai phá vùng đất Nam Bộ, tham gia cùng với Thoại Ngọc Hầu chỉ đạo đào kênh Vĩnh Tế nổi tiếng đã được khắc ghi trên Cửu Đỉnh ở Huế, khi mất Ông được xây dựng lăng mộ theo kiểu thức của triều đình Nguyễn mà không theo các hình thức táng tục của người Khmer bản địa. Điều này cho thấy một hình thức mới là triều đình Nguyễn đánh dâu thêm phần xác lập chủ quyền của Việt Nam trên một phương diện mới  - Mộ táng  ở Nam Bộ Việt Nam.

Hàng năm, vào những ngày đầu năm, cộng đồng cư dân Việt, Hoa, Khmer tập trung về Lăng Nguyễn Văn Tồn tổ chức cúng giỗ, tổ chức lễ hội với nhiều hình thức mang nhiều giá trị văn hóa nhằm ghi nhớ công lao, tôn thờ Ông như một nhân vật lịch sử, một vị thần bảo hộ cho dân sinh trong vùng.

Tài liệu tham khảo
1.    Bảo tàng Vĩnh Long 2004: Di tích lịch sử văn hóa Vĩnh Long. Vĩnh Long.
2.    Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long 1996: Lý lịch di tích Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn.Tư liệu Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long.

Nguồn: http://baotanglichsuvn.com/la-ng-thong-che-dieu-bat-nguyen-va-n-ton-xa-thien-my-huyen-tra-on-tnh-vinh-long-310.html

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Chưa chắc

Được hướng dẫn chưa chắc sẽ nhìn thấy. Nhìn thấy chưa chắc sẽ đọc được. Đọc được chưa chắc sẽ hiểu được. Hiểu được chưa chắc sẽ lĩnh hội được. Lĩnh hội được chưa chắc sẽ nhớ được. Nhớ được chưa chắc sẽ làm được. Làm được chưa chắc sẽ giỏi được. Giỏi được chưa chắc sẽ giữ được. Giữ được chưa chắc sẽ hướng dẫn được. Hướng dẫn được chưa chắc được hướng dẫn.

Chương trình đạp xe mừng xuân Giáp Ngọ: Tp.HCM - Long An - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh - Trà Ôn

(chương trình đã hoãn và đổi thành phóng sự học làm bánh tét)

 Chương trình đạp xe mừng xuân Giáp Ngọ, lộ trình kéo dài khoảng tối thiểu 8 giờ từ khoảng 6 giờ sáng 27/01/2014 đến khoảng 14 giờ cùng ngày (có thể kéo dài tùy vào chương trình phát sinh), bao gồm ba chặng:

- Từ Bến xe miền Tây theo Quốc lộ 1A lần lượt đi qua: Bến Lức - Tân An - Tân Hiệp (Long An); Mỹ Tho (Tiền Giang);
- Từ Mỹ Tho theo Quốc lộ 60 lần lượt đi qua: Châu Thành (Bến Tre) - Càng Long (Trà Vinh) quê nội;
- Từ Càng Long theo Quốc lộ 54 đi về thị trấn Trà Ôn (Vĩnh Long). (http://goo.gl/maps/BkI3z)

Mọi người nếu có quan tâm hãy chúc Tí Thông Minh không đi lạc và không bỏ cuộc sau thành công của chuyến đạp xe tương đương 1/4 hành trình này hồi về Đức Lập vào đầu tháng 01/2014 (http://goo.gl/maps/88vMy). Còn ai ở tuyến đường đạp xe mà muốn mời vô nhà uống nước thì tự canh giờ  để mời nha.

Xuất phát từ cổng Bến xe miền Tây

1.
Hướng về Nguyễn Trọng Trí
Tây Nam trên Kinh Dương Vương
Phí cầu đường một phần
đi tiếp 2,7 km
tổng cộng 2,7 km

2.
Tại chỗ đường vòng, đi theo lối ra thứ 1
lên Vòng xoay An Lạc
đi tiếp 62 m
tổng cộng 2,8 km

3.
Đi bên phải để đi tiếp QL 1
đi tiếp 2,5 km
tổng cộng 5,2 km

4.
Tiếp tục lên Cầu Bình Điền
đi tiếp 160 m
tổng cộng 5,4 km

5.
Tiếp tục lên QL 1
đi tiếp 900 m
tổng cộng 6,3 km

6.
Đi bên trái để vào QL 1
đi tiếp 15,2 km
tổng cộng 21,5 km

7.
Chếch sang phải lên Cầu Bến Lức
đi tiếp 950 m
tổng cộng 22,5 km

8.
Tiếp tục lên QL 1
đi tiếp 12,3 km
tổng cộng 34,8 km

9.
Tiếp tục lên cầu Tân An
đi tiếp 3,5 km
tổng cộng 38,3 km

10.
Tiếp tục lên QL 1
đi tiếp 17,2 km
tổng cộng 55,5 km

11.
Tại chỗ đường vòng, đi theo lối ra thứ 2
lên Ấp Bắc/QL 60
đi tiếp 850 m
tổng cộng 56,3 km

12.
Rẽ phải lên Nguyễn Thị Thập
đi tiếp 2,6 km
tổng cộng 58,9 km

13.
Tiếp tục lên cầu K 120/QL 60
Đi tiếp tục theo QL 60
đi tiếp 150 m
tổng cộng 59,0 km

14.
Tiếp tục lên cầu Rạch Miễu
đi tiếp 3,2 km
tổng cộng 62,2 km

15.
Tiếp tục lên QL 60
đi tiếp 3,0 km
tổng cộng 65,2 km

16.
Tiếp tục lên cầu Ba Lai
đi tiếp 450 m
tổng cộng 65,7 km

17.
Tiếp tục lên QL 60
Đi qua 2 chỗ đường vòng
đi tiếp 7,8 km
tổng cộng 73,5 km

18.
Tiếp tục lên cầu Hàm Luông
đi tiếp 850 m
tổng cộng 74,3 km

19.
Tiếp tục lên QL 60
đi tiếp 1,1 km
tổng cộng 75,5 km

20.
Tiếp tục lên cầu Cái Cấm
đi tiếp 500 m
tổng cộng 76,0 km

21.
Tiếp tục lên QL 60
đi tiếp 10,3 km
tổng cộng 86,2 km

22.
Chếch sang trái lên Cầu
đi tiếp 190 m
tổng cộng 86,4 km

23.
Tiếp tục lên Quốc lộ 60
đi tiếp 11,3 km
tổng cộng 97,7 km

24.
Đi tuyến phà Phà Cổ Chiên
đi tiếp 2,4 km
tổng cộng 100 km

25.
Đi thẳng
lên Quốc lộ 60
đi tiếp 160 m
tổng cộng 100 km

26.
Rẽ trái lên Hương lộ 1
đi tiếp 140 m
tổng cộng 100 km

27.
Tiếp tục lên 60
đi tiếp 4,3 km
tổng cộng 105 km

28.
Tiếp tục lên Cầu Đúc
đi tiếp 160 m
tổng cộng 105 km

29.
Tiếp tục lên 60
đi tiếp 6,7 km
tổng cộng 112 km

30.
Rẽ phải tại Ngã ba Bình Phú
lên Quốc Lộ 53
đi tiếp 5,3 km
tổng cộng 117 km

31.
Ngoặt trái lên Hương lộ 2
đi tiếp 10,1 km
tổng cộng 127 km

32.
Rẽ phải lên ĐT911
đi tiếp 8,8 km
tổng cộng 136 km

33.
Rẽ trái
về hướng QL 54
đi tiếp 2,2 km
tổng cộng 138 km

34.
Rẽ phải lên QL 54
đi tiếp 12,2 km
tổng cộng 150 km

35.
Tiếp tục lên cầu Cây Điệp
đi tiếp 120 m
tổng cộng 150 km

36.
Tiếp tục lên QL 54
đi tiếp 5,1 km
tổng cộng 155 km

37.
Tiếp tục lên Thống Chế Điều Bát
đi tiếp 120 m
tổng cộng 155 km

38.
Rẽ phải lên Quang Trung
đi tiếp 22 m
tổng cộng 156 km

Về đến nhà ba má.

 
Xem Bản đồ cỡ lớn hơn

Mùa xuân, em bé và mẹ

Một buổi sáng mùa xuân trời đẹp
Bé vui cười đón nắng ban mai
Đến bên mẹ, bé ngập ngừng khẽ hỏi:
"Mẹ ơi mẹ, Xuân là gì hở mẹ?"

Mẹ bảo rằng: Khi mai vàng rực rỡ
Khi chúng ta nhận lời chúc tốt lành
Từ những người thân thuộc lẫn không quen
Cũng là lúc mọi gia đình sum họp
Bên bếp lửa hồng ấm áp tình thương
Cũng là khi nắng chiếu soi mọi vật
Và người người hạnh phúc yên vui...
Đó chính là mùa xuân con ạ!

"A ha ha! Mùa xuân là thế đấy
Xuân đến rồi phải không mẹ ơi?"
Mẹ trả lời: "Chưa, chưa đâu con ạ!"
Bé ngạc nhiên hỏi mẹ vì sao!?
Mẹ thì thầm: "Vì cha con chưa về nên chưa có mùa Xuân..."

02.2002

Thành Nam

*Bài thơ được sáng tác nhân dịp Trung tâm Hoạt động Thanh thiếu niên Tỉnh Vĩnh Long vận động học sinh trung học phổ thông sáng tác thơ văn về chủ đề mùa xuân. Tác giả viết bài thơ này và một bài thơ nữa, nhưng tình cờ và may mắn bài thơ này được chọn đăng trong tạp chí của Trung tâm Hoạt động Thanh thiếu niên. Lúc đó, tác giả vẫn đang học lớp 10 và là một học sinh hơi quậy, chưa vào Đoàn Thanh niên Cộng sản.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...