Hiển thị các bài đăng có nhãn xã luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xã luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Lý Đăng-Huy: Hình mẫu Lý Quang-Diệu và Hồ Chí-Minh của quốc gia Đài-Loan đa văn hóa và tôn vinh giá trị bản địa

Lý Đăng-Huy, một công dân thuộc thế hệ tinh hoa đa văn hóa trong 50 năm Đài-Loan thuộc Nhật-Bản, là một hào kiệt thuộc gia tộc họ Lý lừng lẫy châu Á. Nhiều nguồn nghiên cứu cho rằng ông cùng với một vài gia tộc họ Lý tại Cao-Ly và Đông Nam Á có quan hệ thân thích với hậu duệ của vương triều Lý Đại-Việt trên đường tị nạn thay đổi chính trị thời đại.

Là người thừa hưởng nền giáo dục tinh hoa của Nhật-Bản, Lý Đăng-Huy là mẫu người kết nối những giá trị tích cực của mẫu quốc Nhật-Bản vào đời sống Đài-Loan hiện đại sau khi giành độc lập. Khá ngạc nhiên là tinh thần này tương đồng với Lý Quang-Diệu khi áp dụng các giá trị của mẫu quốc Bắc-Đại-Liên (United Kingdom of Britain and Northern Ireland) vào đời sống Sư-Thành (Singapore), hay Hồ Chí-Minh thực hành nhiều nhất có thể các giá trị tinh hoa phổ quát của Thái-Nhân Cộng-Hòa-Quốc (France) và Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc (United States of America) vào nhà nước non trẻ Việt-Nam. Họ đều giống nhau ở điểm theo đuổi một chính sách kĩ trị với chủ nghĩa quốc gia lành mạnh tận dụng tất cả những nguồn lực có sẵn từ di sản hậu thuộc địa để bồi đắp cho hệ sinh thái chính niệm xã hội độc lập bản xứ.

Các quan điểm cá nhân của ông không chấp dính vào những giới hạn của chính trị ngụy niệm khi ông là người từng là thành viên của hai đảng phái có chính sách đối nghịch nhau là Cộng-sản Đảng và Quốc-dân Đảng trước khi tham gia phong trào Liên-minh Đoàn-kết Đài-Loan và Liên-minh Phiếm-Lục theo đuổi một mô hình bản sắc quốc gia riêng cho Đài-Loan độc lập đối nghịch với Liên-minh Phiếm-Lam theo đuổi chính sách thống nhất với đại lục có điều kiện và Liên minh Chính-Nghĩa Công-Bình.

Gia đình Lý Đăng-Huy gồm cha và anh trai từng phục vụ và hi sinh trong lực lượng quân đội Đế-quốc Nhật-Bản nên ông đã từng bình luận về việc thủ tướng Nhật viếng Tĩnh-Quốc Thần-Xã năm 2001 như sau: "Hoàn toàn bình thường khi một thủ tướng của một quốc gia truy niệm hương hồn của những người đã vị quốc vong thân". Bản thân ông trong chuyến thăm Nhật vào tháng 05/2007 đã đến Tĩnh-Quốc Thần-Xã để vinh danh anh trai và gây tranh cãi khi trong đền cũng thờ những tội phạm chiến tranh hạng A thời Thế chiến Đệ nhị.

Năm 2015, ông cho rằng nhân dân Đài Loan là bộ phận của Nhật Bản vì cả hai từng là "một quốc gia" (không có gì sai) đã gây nên làn sóng chỉ trích từ văn phòng tổng thống đương nhiệm và các chính trị gia theo trường phái dân tộc chủ nghĩa cực đoan tại cả Đài-Loan và Đại lục.

Các năm 2002, 2012 và sau cùng là năm 2016 trong quyển sách "Cuộc đời còn lại: Hành trình đời tôi và Con đường dẫn tới nền dân chủ của Đài-Loan" (Remaining Life: My Life Journey and the Road of Taiwan's Democracy) ông thẳng thắn công khai tuyên bố “Điếu-Ngư-Đảo” thuộc chủ quyền Nhật-Bản, cũng như công khai chính sách ưu tiên văn hóa bản địa để khẳng định quyền dân tộc tự quyết cho quốc gia Đài Loan độc lập trên thực tế nhưng vẫn chưa có một cái tên chính danh do di sản chính sách chủ quyền lỗi hệ thống từ thế hệ trước đó. 

Phản hồi đề nghị bình luận của báo chí, bà Thái Anh-Văn khi còn là ứng cử viên tổng thống đã cho rằng "mỗi thế hệ và mỗi nhóm sắc tộc ở Đài-Loan đã sống một lịch sử khác nhau" và cho rằng người dân nên tiếp cận các trải nghiệm và diễn dịch khác biệt này với một tâm thế thông hiểu để học hỏi từ quá khứ hơn là một công cụ gây chia rẽ, qua đó gián tiếp thừa nhận bản sắc riêng của xã hội Đài-Loan đa văn hóa khác với đại lục, bao gồm những quan điểm gây tranh cãi của giới tinh hoa lập quốc như Lý Đăng-Huy.

Do vậy chính phủ Đài-Loan tổ chức quốc tang cho ông với nghi thức treo cờ rủ cấp quốc gia 3 ngày trước khi hỏa táng, cũng như tổ chức lưu giữ thi hài ông tại Nhà khách chính phủ Đài-Bắc trong 16 ngày (01-16/08/2020) để dân chúng đến viếng.

Điều đó càng củng cố quan điểm cho rằng đại đa số dân chúng thừa nhận tôn xưng Lý Đăng-Huy là "Quốc phụ Đài-Loan", tức cha đẻ của tinh thần dân chủ hiện đại tại một quốc gia Đài-Loan độc lập trên thực tế với chính sách nhấn mạnh bản sắc đa văn hóa và làm nổi bật giá trị bản địa vì lợi ích quốc gia vượt ra khỏi các ranh giới quan điểm chính trị.

Ở khía cạnh danh phận quốc gia này, xã hội Hán-Đường chủ lưu Đài-Loan trên con đường khẳng định quốc danh độc lập của mình theo di sản tư tưởng Lý Đăng-Huy sẽ còn nhiều vấn đề cần tham khảo mô hình tương đồng là Việt-Nam trong mối tương quan với khối đồng văn Đông Á hiện đại. Một số mô hình tương phản có liên quan như Hương-Cảng và Ma-Các đã từ lâu là đối tượng quan tâm của Đài-Loan thời kì tranh chấp quyền thực thi tư tưởng chủ lưu giữa ba xu hướng độc lập tuyệt đối, giữ nguyên hiện trạng hay thống nhất với đại lục.

Chúng ta không thể biết được điều gì sẽ xảy ra nếu một ngày nào đó Đài-Loan dùng chủ quyền đảo Ba-Bình (vốn thuộc về Việt-Nam nếu xét theo các thông lệ quốc tế) để thăm dò khả năng Việt-Nam nâng cấp quan hệ ngoại giao chính thức.

Tham khảo:
https://en.wikipedia.org/wiki/Lee_Teng-hui
https://focustaiwan.tw/politics/202007310014
https://en.wikipedia.org/wiki/Taiwan_Solidarity_Union
https://en.wikipedia.org/wiki/Pan-Green_Coalition
https://en.wikipedia.org/wiki/Pan-Blue_Coalition
https://en.wikipedia.org/wiki/Pan-Purple_Coalition
http://shanghaiist.com/2015/08/23/former_taiwan_prez_calls_japan_motherland.php
http://www.mofa.go.jp/announce/press/2002/9/0927.html
http://www.japantimes.co.jp/text/nn20051017a1.html
http://www.chinapost.com.tw/front/111039.htm
https://youtu.be/L58aBvAJBtM
https://youtu.be/sjG00kSU3Yc

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020

Bring it on - Chơi tới luôn!


Hai mươi năm từ khi bộ phim giới thiệu nghệ thuật cổ động đồng diễn này ra đời (2000-2020), bất chấp tăng cường giao lưu trao đổi giáo dục ngày càng tăng giữa Việt Nam và Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc (United States of America), văn hóa cổ động thể thao ở các trường đại học tại Việt Nam vẫn chưa hề định hình rõ ràng hay có một tổ chức điều phối trung gian tương tự như Nhật ký cổ động viên hay Cầu thủ bóng đá thứ 12 - Vietnam Football 12th Players.

Cụ thể là sau nửa thế kỉ đi sau các nước phát triển thì Việt Nam chưa bao giờ có một đội nhạc diễu hành cổ động thể thao (bao gồm đội nhảy cổ động, đội trống, đội kèn) xuất hiện trong bất kì trường đại học nào dù là dẫn đầu về phong trào văn nghệ. Trong khi đây là một thực hành văn hóa cộng đồng rất "xã hội chủ nghĩa" ở Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc và rất nhiều quốc gia phát triển, thể hiện qua hệ sinh thái trui rèn và phát triển văn hóa hòa bình & tinh thần làm việc tập thể ở quy mô lớn và mức độ chuyên nghiệp cao, thứ mà Việt Nam còn rất kém.

Bộ môn cổ động đồng diễn tập thể ở Việt Nam chỉ tồn tại ở định dạng biểu diễn nhảy múa đồng diễn tranh tài đối kháng tách rời khỏi hệ sinh thái cổ động thể thao và không tích hợp được vào văn hóa thể thao học đường chủ yếu do phương pháp tiếp cận lệch pha (và có lẽ do kiến thức giới hạn của những người làm sự kiện thể thao giải trí lẫn phụ trách ở các trường đại học Việt Nam).

Hiện tại môn nhảy đối kháng là môn thi đấu chính thức trong các giải thể thao giải trí dành cho cho sinh viên Việt Nam (U-League và VUG), còn nhảy cổ động cũng trở thành môn thi đấu giữa một số trường trung học tại Tp.HCM. Tất nhiên là nó không dính gì tới đội nhạc diễu hành là điều mà vài thập kỉ nữa chưa chắc tồn tại ở Việt Nam. Hai cuộc thi ở hai cấp độ thanh niên vị thành niên và thanh niên trưởng thành này thậm chí cũng không liên quan gì tới nhau hay thậm chí không có chút liên kết nào tới mô hình đội trống kèn chỉ có duy nhất ở các trường khối sơ trung trong phong trào tổng phụ trách đội và dán nhãn chính thức là một hoạt động thiếu nhi.

Là những người quan tâm phát triển văn hóa cổ động tập thể ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng các tổ chức thể thao học đường nên thường xuyên tổ chức công chiếu những ấn phẩm giải trí tương tự thế này cho các thế hệ sinh viên xem hàng năm (như vào dịp chào đón tân sinh viên) như hoạt động bổ túc kiến thức về kĩ năng làm việc nhóm để khuyến khích thực hành văn hóa cổ động tập thể tăng cường giá trị cộng đồng cho hình ảnh thương hiệu đại học.

Chúng tôi tin rằng nếu kiên trì thực hiện nghiêm túc thì hi vọng sau vài thập kỉ nữa Việt Nam sẽ bắt đầu hình thành nền tảng giáo dục toàn diện cho sinh viên và công chúng thông qua làm việc nhóm tập thể lớn bằng âm nhạc đồng diễn!

* Danh mục các phim cùng thể loại:
2000 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On_(film)
2004 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On_Again
2006 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On:_All_or_Nothing
2007 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On:_In_It_to_Win_It
2009 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On:_Fight_to_the_Finish
2017 https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On:_Worldwide_Cheersmack
https://en.wikipedia.org/wiki/Bring_It_On_(film_series)

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2020

Cựu hoàng Bảo-Đại và công dân Vĩnh-Thụy: một lựa chọn lịch sử




Cựu hoàng Bảo-Đại trưởng thành trong thời loạn lạc quen thói quý tộc xa rời quần chúng nên không thoát khỏi áp lực lợi ích gia tộc hạn hẹp nên thay vì vĩnh viễn từ bỏ vương quyền để nhận danh hiệu cố vấn tối cao của một chính phủ liên hiệp thống nhất thì lại dễ dàng tin lời cám dỗ của ngoại bang để trở thành quốc trưởng của một chính phủ đi ngược lại quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam. Cái gì đến cũng phải đến: Ngô Đình Diệm thay mặt Hoa Kỳ đạp đổ hết chút danh dự còn sót lại của một vương triều hùng mạnh nhất Đông Nam Á cận đại.
Thật đáng tiếc là chuỗi sự kiện này đã làm Việt Nam mất đi cơ hội duy trì một một biểu tượng tinh thần về văn hóa truyền thống phục vụ cho hành trình xây dựng căn cước văn hóa toàn diện của Việt Nam hiện đại. Vai trò đó tự dưng trở thành áp lực lớn cho Hồ Chí Minh, người đã hạ mình mời cựu hoàng làm cố vấn tối cao chính phủ nhưng không được lòng các cường quốc vốn không muốn người Việt Nam được quyền tự quyết vận mệnh dân tộc mình.
Chúng ta không thể biết điều gì sẽ xảy ra nếu công dân Vĩnh-Thụy không trở lại làm quốc trưởng Bảo-Đại không có thực quyền và trên thực tế là bị lợi dụng cho mục đích chống lại chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng chắc chắn đó là một Việt Nam rất đoàn kết và thống nhất về lòng người.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa: Một lược sử đấu tranh giành lại quyền tự quyết dân tộc tại miền nam Việt Nam


Man nhan anh phuc che ve linh giai phong tren bao nuoc ngoai-Hinh-17

Man nhan anh phuc che ve linh giai phong tren bao nuoc ngoai-Hinh-21

Sự kiện lịch sử đã diễn ra vào ngày 30/04/1975: Chính phủ lâm thời cách mạng Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa tiếp nhận tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa tại Dinh Độc-Lập.

Hệ quả: Hòa bình chính thức lập lại trên toàn cõi miền nam Việt Nam, mở đường cho ủy ban ban thống nhất của hai miền tổ chức hiệp thương chính trị sáp nhập hai hệ thống nhà nước tập quyền độc lập (Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa tại miền bắc, Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa tại miền nam) trở thành một hệ thống nhà nước tập quyền duy nhất (Việt-Nam Xã-hội Chủ-nghĩa Cộng-hòa) quản lí hành chính chung cho toàn cõi Việt Nam kể từ ngày 02/07/1976 và vẫn chọn ngày 02/09 là quốc khánh để thể hiện tính kế thừa nền cộng hòa thứ hai của chính phủ Hồ Chí-Minh (nền cộng hòa thứ nhất với chính phủ Nguyễn Ái-Quốc 1940 chỉ tồn tại 49 ngày tại miền nam Việt Nam).

Trong thời gian tồn tại của mình, Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa với với nguyên tắc "Độc lập – Dân chủ – Hòa bình – Trung lập" cùng 4 lần thay đổi thủ đô đã hoàn thành sứ mệnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh sập hoàn toàn gốc rễ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới tại miền nam Việt Nam, mở ra một chương mới thực hiện quyền dân tộc tự quyết theo hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Cần nhắc lại, động lực quan trọng nhất khiến Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa ra đời chính là khi chính phủ Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc (United States of America) từ chỗ là đồng minh của phong trào Việt-Nam Độc-lập Đồng-minh nhưng cuối cùng vì lợi ích nước lớn đã lựa chọn ủng hộ Thái-Nhân-Quốc (France) tái chiếm Việt Nam và can thiệp thô bạo vào quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam với đỉnh điểm là vụ ám sát tổng thống Ngô Đình-Diệm của chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa, tại thời điểm mà nhà lãnh đạo cao nhất miền nam đang giữ liên lạc chặt chẽ với người đứng đầu chính phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa tại miền bắc là Hồ Chí-Minh, Chủ-tịch Vĩnh-viễn của đảng Việt-Nam Cần-Lao (từ ngày 02/09/1969 trở đi, đặc biệt từ khi đảng Việt-Nam Cần-Lao sáp nhập với đảng Việt-Nam Dân-chủ và đảng Việt-nam Xã-hội trở thành đảng Việt-Nam Cộng-Sản vào năm 1988 thì vai trò lãnh đạo cao nhất chỉ là Tổng Bí thư).

Đảng Việt-Nam Cần-Lao Nhân-Vị Cách-Mạng hay đảng Việt-Nam Nam-phương Nhân-dân Cách-mạng của có thể xem là phiên bản mang màu sắc xã hội hợp chúng quốc miền nam (so với đảng Việt-Nam Cần-Lao tại miền bắc) khi áp dụng mô thức quản trị theo tư duy khoa học kĩ thuật chính xác phương Tây bồi đắp phía bên ngoài của cái lõi tư duy dĩ bất biến ứng vạn biến truyền đời phương Đông. Cần lưu ý rằng cấu trúc tổ chức của các hệ thống đảng phái chính trị này đều có sau và mô phỏng lại cấu trúc tổ chức của các tổ chức tôn giáo phương Tây như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra.

Hai vị lãnh đạo của hai chính phủ đối đầu diễn ngôn chính trị thời chiến gây ngạc nhiên (không không bất ngờ) cho hầu hết những người thuộc cấp có tầm nhìn hạn hẹp hoặc những ai có thế giới quan chính trị thiên vị lợi ích phương Tây khi vẫn dành cho nhau những thông điệp ngoại giao mùa Tết bằng những cành mai và đào và công khai đề cao lí tưởng yêu nước của đối phương. Tình trạng thân thiện "trên mức cần thiết" giữa lãnh đạo hai miền này tại thời điểm đó có thể dẫn tới một quá trình liên bang hóa thống nhất Việt Nam trong hòa bình và do đó là nguy cơ gây phương hại đến lợi ích của những "người Mỹ trầm lặng" tại Đông Nam Á.

Cán cân chính sách ngoại giao Bắc-Nam của chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa từ sau vụ ám sát Ngô Đình-Diệm hoàn toàn nghiêng về phía phục vụ lợi ích cốt lõi của "người Mỹ (nay không còn) trầm lặng", hay nói cách khác, quyền tự quyết về chính sách quốc gia không còn thực sự nằm trong tay những người miền nam Việt Nam. Chính phủ Hàn-Quốc đương nhiệm của năm 2020 có lẽ đã phải nghiên cứu bài học này rất kĩ trong quá trình hòa đàm Bắc-Nam hướng tới tái thống nhất với Triêu-Tiên mà vẫn duy trì mối quan hệ an toàn với chính phủ Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc và hiện diện quân sự của họ để bảo về lợi ích quốc gia nhân danh Liên-Hiệp-Quốc trên lãnh thổ Cao-Ly.

Trong bối cảnh đó, chính phủ cách mạng lâm thời Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa (Huỳnh Tấn-Phát giữ vai trò chủ tịch) ra đời theo nghị quyết Việt-Nam Nam-phương Quốc-dân Đại-hội từ ngày 08/06/1969 dựa trên nền tảng hệ thống chính trị - xã hội kết hợp của đảng Việt-Nam Nam-phương Nhân-dân Cách-mạng (thành lập từ 1960, đổi tên năm 1962, Võ Chí-Công giữ vai trò chủ tịch), mặt trận Việt-Nam Nam-phương Dân-tộc Giải-phóng (thành lập 20/12/1960, Nguyễn Hữu-Thọ giữ vai trò chủ tịch ủy ban trung ương) và Việt-Nam Hòa-bình Dân-chủ Dân-tộc Lực-lượng Liên-minh (thành lập 20/04/1968, Trịnh Đình-Thảo giữ vai trò chủ tịch) và các lực lượng yêu nước độc lập khác tại miền nam Việt Nam như: Phong trào tự trị nhân dân Tây Nguyên (Ibil Aleo giữ vai trò chủ tịch), Liên hiệp lao động giải phóng (Phạm Xuân-Thái giữ vai trò chủ tịch), Hội nông dân giải phóng (Nguyễn Hữu-Thế giữ vai trò chủ tịch), Hội phụ nữ giải phóng (Nguyễn-Thị Định giữ vai trò chủ tịch kiêm Phó Tư lệnh Việt-Nam Nam-phương Giải-phóng-quân), Hội Lục hòa Phật tử (Thích Thiện-Hảo giữ vai trò chủ tịch), Cao Đài (Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi đại diện), Hội Liên hiệp thanh niên Giải phóng (Trần Bạch-Đằng giữ vai trò chủ tịch), Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước (Joseph Marie Hồ Huệ Ba giữ vai trò chủ tịch), Phật giáo Hòa Hảo (Huỳnh Văn Trí đại diện), đảng Việt-Nam Nam-phương Dân-chủ (Ung Ngọc-Kỳ đại diện), đảng Việt-Nam Nam-phương Cấp-Tiến Xã-Hội (Nguyễn Ngọc Thương đại diện).

Hệ thống chính trị - xã hội nói trên đã kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm", bác bỏ sự hợp pháp của chính quyền Sài Gòn, ủng hộ độc lập dân tộc, trung lập và hòa bình tại miền nam Việt Nam.

Mặt trận Việt-Nam Nam-phương Dân-tộc Giải-phóng là một phong trào giải phóng, liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng gồm có các đại diện như:
- Bác sĩ Phùng Văn-Cung thay mặt giới trí thức Sài-Gòn;
- Ông Nguyễn Văn-Linh thay mặt đảng Việt-Nam Nam-phương Nhân-dân Cách-mạng;
- Ông Ung Ngọc-Ky thay mặt đảng Việt-Nam Nam-phương Dân-chủ;
- Ông Nguyễn Văn-Hiếu thay mặt đảng Việt-Nam Nam-phương Cấp-Tiến Xã-Hội;
- Ông Lê Thanh thay mặt Việt-Nam Nam-phương Giải-phóng-quân.

Mặt trận Việt-Nam Nam-phương Dân-tộc Giải-phóng đưa ra Chương trình 10 điểm có các điểm đáng lưu ý như "thành lập chính quyền liên minh dân tộc, dân chủ", "thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ", "xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiện cải thiện dân sinh", "thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo hộ quyền lợi chính đáng của ngoại kiều và kiều bào", "thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập", "lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc" và "chống chiến tranh xâm lược, tích cực bảo vệ hòa bình thế giới."

Sau khi Việt Nam thống nhất, nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới về sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia, Đại hội các Mặt trận tại Việt Nam họp từ 31/01/1977 đến 04/02/1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc Việt Nam (Mặt trận Tổ-quốc Việt-Nam, Mặt trận Việt-Nam Nam-phương Dân-tộc Giải-phóng và Việt-Nam Hòa-bình Dân-chủ Dân-tộc Lực-lượng Liên-minh) thành một tổ chức Mặt trận duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ-quốc Việt-Nam.

Chính phủ Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa tôn xưng Hồ Chí-Minh là lãnh tụ của mặt trận Việt-Nam Thống-nhất Dân-tộc và nghiêm túc thực hiện nguyện vọng thống nhất đất nước trong di chúc Hồ Chí-Minh.

Ngày 07/11/1969, chính phủ cách mạng lâm thời Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa ra tuyên bố về chính sách chiến tranh xâm lược ngoan cố của chính quyền Nixon đối với miền Nam Việt Nam. Bản tuyên bố nêu rõ:

“Miền Nam Việt Nam phải được độc lập, tự do... Nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân Mỹ và quân các nước chư hầu - đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đòi điều kiện gì, phải từ bỏ chính quyền tay sai Thiệu - Kỳ - Khiêm độc tài, hiếu chiến và thối nát để nhân dân Việt Nam giải quyết công việc nội bộ của mình”. (lưu ý: tuyên bố không nói  gì tới chính quyền Diệm trước đó)

Tháng 12/1969, nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác bài hát "Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ" gửi tặng ca sĩ Pete Seeger để thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân yêu chuộng hòa bình ở hai nước.

Tình cảm quốc tế đương nhiên này của nhân dân hai nước hoàn toàn độc lập và xung đột với chính sách thực dân kiểu mới vì lợi ích nước lớn hẹp hòi của Thế-Quân-Châu Hợp-Chúng-Quốc từ chỗ ủng hộ Việt-Minh, chuyển qua chống lại Việt-Minh rồi thuộc địa hóa miền nam Việt Nam và chiến tranh hủy diệt miền bắc Việt Nam qua các giai đoạn:
- bí mật và công khai viện trợ vũ khí cho Thái-Nhân-Quốc Viễn-Đông Viễn-chinh Quân-đoàn (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient) và Đông-Dương Thái-Nhân-Quốc Lực-Lượng (Forces Françaises d'Indochine) tái chiếm Việt Nam (giai đoạn 1946-1954)
- hậu thuẫn các chính phủ phụ thuộc tại miền nam Việt Nam (giai đoạn 1954-1965)
- chính thức can thiệp quân sự trực tiếp vào chiến trường Việt Nam xuất phát từ một báo cáo tình báo ngụy tạo làm tiền đề cho nghị quyết can thiệp thô bạo vào vấn đề riêng của người Việt Nam từ 1965 đến khi buộc phải kí hiệp ước hòa bình vào năm 1973.

Ngày 30/04/1975, có một sự việc khác cũng khiến dư luận thiên vị truyền thông phương Tây phải ngạc nhiên (nhưng không bất ngờ) đó là vai trò diễn ngôn kết thúc chiến tranh của tổng thống Dương Văn-Minh thay mặt chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa với tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước lực lượng chính phủ Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa. Điều ngạc nhiên nhất chính là ông Dương Văn-Minh đồng ý đảm nhiệm vai trò tổng thống lâm thời chủ yếu để tham gia tuyên truyền giảm thiểu đổ máu (do xung đột quân sự giữa lực lương hai bên) cũng như thiệt hại hạ tầng đô thị tại thời điểm kết thúc chiến tranh và nghiêm túc chờ lực lượng quân sự của chính phủ Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đến Dinh Độc-lập để bàn giao chính quyền (và dĩ nhiên là tham gia các hoạt đông trên đài phát thanh như các nhà nghiên cứu lịch sử đã tường thuật). Điều quan trọng gây ngạc nhiên là phải rất lâu sau đó lãnh đạo cao nhất của Việt-Nam Nam-phương Giải-phóng-quân mới xuất hiện.

Ngày 30/04/1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt -Nam Cộng-hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa tuyên bố: “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”.

Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa, chính phủ cách mạng lâm thời Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đã khẳng định Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt-Nam Cộng-hòa, đặc biệt là kế thừa chủ quyền của Việt-Nam Cộng-hòa đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, sau năm 1975, Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đã kế thừa lãnh thổ, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tư cách thành viên tại các tổ chức quốc tế. Tất cả những kế thừa này của Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đều thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.

Sau ngày 30/04/1975, Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đã có một loạt tuyên bố khẳng định quyền thừa kế đối với tài sản quốc gia của miền Nam Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như: Tuyên bố ngày 01/05/1975 của Bộ Ngoại giao Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa khẳng định mọi tài sản, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ lưu trữ, tài khoản ngân hàng, trụ sở, phương tiện giao thông và tất cả những tài sản khác của các cơ quan đại diện của Việt-Nam Cộng-hòa ở nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sự quán, Cơ quan đại diện bên cạnh các tổ chức quốc tế…) là tài sản của nhân dân miền Nam Việt Nam và phải do Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa quản lý... Cũng với cách tiếp cận tương tự, Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa đã đòi quyền đại diện tại hầu như tất cả các tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc mà trước đó Việt-Nam Cộng-hòa đã tham gia (WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới…). 

Việc Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa tiếp quản các cơ quan đại diện và tài sản của chính phủ Việt-Nam Cộng-hòa cũng như quy chế hội viên tại các tổ chức quốc tế diễn ra thuận lợi, không gặp một trở ngại nào về pháp lý vì các quốc gia và tổ chức quốc tế đều quan niệm rằng theo luật pháp quốc tế đây chỉ là sự thay đổi chính quyền trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, không làm phát sinh chủ thể mới. Theo họ đây là thừa kế chính phủ chứ không phải thừa kế quốc gia. Việc tuyệt đại đa số thành viên Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khóa XXX (1975) biểu quyết ủng hộ kết nạp Việt-Nam Nam-phương Cộng-hòa cùng với Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa làm thành viên Liên Hợp Quốc càng chứng minh rõ việc này (năm 1975 không được kết nạp là do phiếu phủ quyết của Mỹ vào ngày 30 tháng 9).

Tất cả những sự kiện đó tại miền nam Việt Nam, tách khỏi những tranh cãi diễn ngôn chính trị, đều thể hiện một quyết tâm giành lại quyền tự quyết dân tộc của người Việt Nam và theo cách thức riêng trong bối cảnh xã hội hợp-chúng-quốc cộng-cư đa-văn-hóa suốt mấy trăm năm đô thị hóa của miền nam Việt Nam.

Bài viết hoàn toàn là quan điểm riêng của tác giả với tinh thần tiếp nối các nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam của học giả Trần Văn-Giàu. Các tên gọi trong bài là cách ký âm diễn nghĩa tên các tổ chức trong và ngoài nước theo nguyên tắc chính niệm ngôn ngữ đảm bảo đọc hiểu trực tiếp trong tiếng Việt Nam.

Bài khảo luận có tham khảo:
- Tác phẩm điện ảnh "Hà Nội mùa đông năm 1946" (chuyển thể từ tiểu thuyết "Sống mãi với thủ đô" của Nguyễn Huy Tưởng) do đạo diễn Đặng Nhật Minh thực hiện.
- Tác phẩm điện ảnh "Người Mỹ trầm lặng" (The Quiet American, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Graham Greene) do đạo diễn Phillip Noyce thực hiện.
- OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan,
- Đồng minh OSS trong cuộc kháng Nhật (phóng sự nhiều ký trên báo Tuổi Trẻ)
- Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975), Wikipedia.
- Cương lĩnh Đảng Lao động Việt Nam.
- Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam.
- Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Wikipedia.
- Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Wikipedia.
- Cuốn băng thu âm ngày 30/04/1975: Tiếng nói đầu tiên về sự Đổi Đời trên làn sóng điện của Đài Phát thanh Sài Gòn, Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã.
- Nền cộng hòa 49 ngày: Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc (phóng sự nhiều kỳ trên báo Tuổi Trẻ).
- Dấu ấn của ngày đại thắng 30/4 qua những con tem bưu chính, Vietnam+.
- TP.HCM kỷ niệm 45 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Vietnam+.
- Giới thiệu bộ tem “Kỷ niệm 50 năm thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976)”, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam.
- Bài hát "Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ", Phan-Dương Thiện-Duyên.
- Ðóng góp to lớn của Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Báo Nhân Dân.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Ngôi sao Vàng đã thử lửa thành công

Khởi đầu bằng một trận đấu nhiều sai sót để mất điểm trong trận gặp Indonesia, rồi một trận thắng chưa hoàn toàn thuyết phục trong trận gặp Lào. Nhưng trước một đội Philippines đang hừng hực khí thế của đội xếp hạng cao nhất khu vực Đông Nam Á và một dàn hảo thủ nhiều kinh nghiệm đã đè bẹp Indonesia trước đó, các chàng trai Việt Nam với lối đá khoa học dưới triều đại Toshiya Miura đã làm người hâm mộ ngất ngây và thăng hoa với những bàn thắng đầy sức mạnh của Hoàng Thịnh, đầy kỹ thuật của Thành Lương và cú bức phá tốc độ đáng nể của Minh Tuấn. Trong cả ba bàn thắng đều có dấu ấn của những người đồng đội cùng độ tuổi trẻ như nhau.

Lê Công Vinh dù không ghi bàn nhưng với tốc độ vượt trội của mình nhiều lần đã khiến hàng hậu vệ đối phương phải phạm lỗi và phần nào khiến cầu thủ đối phương mất cảnh giác với những nhân tố trẻ của Ngôi sao Vàng.

Chính bàn thắng đầu tiên đầy sức mạnh từ khoảng cách giữa sân mang yếu tố bất ngờ của Hoàng Thịnh đã làm ngỡ ngàng toàn bộ hàng thủ 6 người của đội bóng biệt danh Những chú chó đường phố (Azkals) cùng các đồng đội của mình. Nó cũng mở đầu cho hành trình vô hiệu hóa chiến thuật mà Philippines đã đề ra lúc đầu, như ông Thomas Dooley cho biết sau trận đấu. Cũng Hoàng Thịnh áp sát kịp thời kiến tạo một đường chuyền phản công dù không rõ ràng nhưng Minh Tuấn đã tận dụng những phẩm chất cá nhân về tốc độ và sự khéo léo để ghi bàn sau khi tạo nên một khoảng trống mênh mông trước khung thành thủ môn trẻ Patrick Deyto trưởng thành từ phong trào bóng đá học đường Philippines.

Trước những bàn thắng đầy thuyết phục của đồng đội, tiền vệ Thành Lương cũng tranh thủ thử vận may của mình sau đường chuyền của Văn Quyết trong vòng vây dày đặc các hậu vệ đối phương. Một bàn thắng với quỹ đạo bay khó tin trong phạm vi hẹp đã hoàn toàn hạ gục thủ thành Dayto khi anh này không đủ thời gian để kịp nhìn thấy.

Phong cách Nhật Bản đã chiến thắng phong cách Bắc Mỹ. Các bàn thắng đều thuyết phục và nhất là lối đá cống hiến không câu giờ đã làm nên một tinh thần mới của đội tuyển quốc gia.

Và những cổ động viên chuyên nghiệp của VFS lại có lý do để tiếp tục bùng nổ với việc tạo nên những làn sóng hàng vạn người liên tiếp trên một sân vận động cách nơi diễn ra trận đấu hơn 1700 cây số. Cũng nên biết rằng trước đó chính họ đã lo lắng đến mất ngủ khi đội tuyển chưa thể hiện được phong độ cần có và khiến người hâm mộ không đến sân ủng hộ nhiều như trong các trận của lứa đàn em mà nòng cốt sẽ là đội hình chính thức của Hoàng Anh Gia Lai mùa giải 2015 sau khi trưởng thành từ học viện liên kết giữa câu lạc bộ này với đội bóng Arsenal lừng danh ở giải Ngoại hạng Anh. Nếu họ cứ tiếp tục đá như thế, thì người hâm mộ sẽ tự tìm đến sân.

Tuy nhiên, bên cạnh vấn đề lối đá đẹp và cống hiến, về mặt chuyên môn, như ông huấn luyện Nhật Bản đã luôn rất chuyên nghiệp trong các bài trả lời báo chí, hàng thủ của đội tuyển vẫn còn mắc lỗi mất cảnh giác và phải trả giá bằng bàn gỡ nhanh chóng và vô cùng kỹ thuật của trung vệ kỳ cựu gốc Hà Lan Paul Mulders hiện đang thi đấu tại giải vô địch Philippines. Mặc dù hàng thủ Việt Nam có thể nhỉnh hơn hàng thủ các đội bạn nhưng đây sẽ là tử huyệt nếu để tiền đạo đối phương khai thác. Bên cạnh đó, sự gắn kết tập thể cũng là điều mà ông Miura muốn hướng tới khi không hề thay người cho đến gần hết hiệp 2.

Đồng cảm với ông Miura, một độc giả đã bình luận trên tờ Zing News nguyên văn như sau: "Không biết mọi người thấy sao chứ. Tuyển Việt Nam đá chục năm trời cầm bóng chuyền banh là cứ ói ra, hoặc chuyền khó đồng đội. 3 bàn thắng hôm nay đều do nỗ lực cá nhân, chẳng có pha phối hợp nào ra hồn, cầm bóng không được chuyền không xong. Không lẽ cứ trận nào cũng nhờ cá nhân à. Bởi vậy coi mà nhớ U19 giữ banh tốt như thế nào."

Như mọi lần, VFF lại sắp làm hỏng đội tuyển bằng tiền thưởng trước vòng bán kết.

Thiện Duyên

(xã luận thể thao của phóng viên chưa có thẻ nhà báo)

Thứ Tư, 5 tháng 2, 2014

Lễ xây chầu đại bội ở Nam Bộ

Xây chầu và đại bội là quá trình diễn tấu văn nghệ, do những nghệ nhân dân gian trình diễn, trong những không gian thiêng liêng dân dã, phục vụ cho dân làng thưởng thức. Nó đáp ứng được nhu cầu tâm linh của dân làng trong việc thờ thần và vui chơi trong mỗi kỳ lễ tết, theo nhịp thời gian vụ mùa. Xây chầu là một lễ quan trọng và rất phổ biến trong các cuộc tế lễ ở Nam bộ. Hầu như trong các cuộc tế lễ thần thánh nào cũng có tục xây chầu, từ lễ hội cúng đình, lễ hội nghinh Ông… cho đến lễ vía bà Chúa Xứ.

Lễ này, theo nhà văn Sơn Nam, là để nhắc nhở cội nguồn, đề cao tư thế con người trong vũ trụ, cầu mong sự hài hòa giữa Thiên, Địa, Nhơn (Nhân): tròn đạo Trời, vuông đạo Đất, sáng đạo Người. Con người luôn gắn bó với mặt trời, Mặt Trăng, tinh tú, cây cỏ, núi sông, mưa, nắng, gió.

Theo sách Văn hóa tâm linh Nam Bộ thì: Xây chầu còn gọi là khai tràng (chầu hát, trường hát), khai thiên lập địa, khai thông thái cực. Lễ này vốn bắt nguồn từ lễ Đại Bội, diễn ra trong cung đình nhà Nguyễn. Sau, lễ truyền ra ngoài và trở thành nét đặc trưng của lễ hội ở đinh miếu Nam Bộ.

Và người có công bày ra là Tả quân Lê Văn Duyệt, khi ông đang giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Người Hoa và đồng bào phía đồng bằng Sông Hồng không có lễ này.


Cũng theo Sơn Nam, sau phần xây chầu thì hoạt cảnh đại bội quan trọng nhất về ngôi Ngũ hành là cảnh "Lễ Đứng Cái" gồm năm diễn viên tham gia.

Một Cái tên là Mã Viên, là một diễn viên nam, mặt trắng, đội mão, tay cầm quạt, tương đối còn trẻ, chứng tỏ dồi dào sinh lực, phải trang nghiêm, không cười lả lơi đứng giữa, mặc áo vàng tượng trưng hành Thổ, có nghĩa là Đất (đất ruộng). Xuân, Hạ, Thu, Đông tuy quan trọng nhưng phục vụ cho Đất. Bốn mùa luân chuyển, nếu thiếu Đất thì làm sao sản xuất lúa gạo được.

Bốn cô đào thài đứng bốn bên, mặc xiêm y sang trọng tượng trưng cho:
- Mã Xuân mai: mùa xuân, mặc áo xanh, hành Mộc.
- Mã Hạ mai: mùa hạ, mặc áo đỏ, hành Hỏa.
- Mã Thu mai: mùa thu, mặc áo trắng, hành Kim.
- Mã Đông mai: mùa Đông, mặc áo tím, hành Thủy.

Tiết mục này vui tươi, ngoạn mục, linh động nhất mà mọi người đều ưa thích trong Lễ Đại Bội. Bốn cô đào thài mặc xiêm y sang trọng, tay cầm quạt phe phảy, yểu điệu, cùng ca theo giọng bình dân, ngân nga, nương theo tiếng trúc, với nụ cười. Bốn cô hát bài dài, có những câu như:

"Âu vàng vững đạt báu ngôi,
Trên vua khai rạng, dưới tôi trung thần...
Làu làu tiết chói Nghiêu thiên,
Hây hây Thuấn nhật, vua Lê trị đời..."

Ca ngợi đời Nghiêu - Thuấn thái bình, có vua Lê (hậu Lê), khi chúa Nguyễn vào Nam mở nước. Bốn cô nầy (gọi Con) đã kính cẩn lạy linh thần trước khi hát điệu Nam Xuân dụng, gần như hai tay cầm quạt phải cử động không ngừng, hát xong phân ra bốn gốc sân khấu.

Người Cái bước ra lạy linh thần rồi duyệt qua các cô đào thài (Xuân, Hạ, Thu, Đông), rồi đứng giữa (trung ương), hát điệu Nam Xuân. Hát xong, các đào thài đóng vai Con phụ họa theo, chúc tụng đất nước, chúc tung nhân dân, chúc tụng trời đất muôn loài từ ngũ hành mà ra. Cái hát chúc thọ vị lãnh đạo Dân tộc, lạy tạ thần linh, kính chúc ban Tế lễ; rồi đào thài múa lượn, vẫn cầm quạt ca ngợi Tổ quốc, với nụ cười duyên dáng. Đào hát theo điệu gọi là Nhịp Một, có trồng đệm theo, gây phấn khởi, lạc quan.






* Minh họa: Chương trình Lễ xây chầu đình chùa Nam Bộ tại lăng ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn (đường Thống Chế Điều Bát, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, Vĩnh Long) do đoàn tuồng cổ gia truyền Mai Minh Khai thực hiện. Đoàn Mai Minh Khai là một trong những đoàn tuổng cổ có tuổi đời lâu nhất, gần ba phần tư thế kỷ, tại vùng ĐBSCL vẫn còn đang hoạt động. Lễ hội Lăng Ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn diễn ra vào mùng 3, mùng 4 Tết Nguyên đán hàng năm.

Nghi lễ cúng tế giỗ ông Dung Ngọc hầu Tiền quân Thống chế Điều bát

Ngay từ thế kỷ 18 (1732) với Dinh Long Hồ, Vĩnh Long đã là một trong những trung tâm chính trị của chúa Nguyễn và cả thời Nguyễn sau này ở Nam Bộ. Bên cạnh một số di tích lịch sử văn hoá như Đình, Chùa, Miếu… hiện tại Vĩnh Long còn có một số quần thể lăng mộ cổ chứa đựng nhiều giá trị về kiến trúc nghệ thuật, giá trị lịch sử văn hoá gắn liền với thân thế và sự nghiệp của tiền nhân trong cuộc khai phá vùng đất Vĩnh Long nói riêng và vùng đất Nam Bộ Việt Nam nói chung. Trong đó có một lăng mộ của quan đại thần triều Nguyễn người Khmer – Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn  Văn Tồn.


Lăng Nguyễn Văn Tồn, còn gọi là Lăng Ông hay Lăng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, toạ độ địa lý: 90.58’.38” Vĩ độ Bắc; 1050.56’.23” Kinh độ Đông. Nằm trên địa phận Ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, cách trung tâm TP Vĩnh Long khoảng 40km về hướng Đông Nam.

Nguyễn Văn Tồn được Đại Nam liệt truyện ghi chép như sau: Người phủ Trà Vinh nước Chân Lạp, nguyên làm nô trong cung cấm. Mùa xuân năm Giáp Thìn (1786), theo vua sang Vọng Các làm Cai Đội...Tồn khi trước tên là Duyên, không có họ, vì theo đuổi có công bèn cho họ và tên. Năm Gia Long thứ 1 (1802), thăng Cai Cơ. Sai Nguyễn Văn Tồn kiêm quản cả 2 phủ: Trà Vinh, Mân Thiết lệ thuộc vào Vĩnh Trấn...

Năm thứ 9, đổi đồn Xiêm binh làm đồn Uy Viễn, cho Tồn làm thống đồn, trông coi như cũ. Năm thứ 10, lại triệu vào kinh, thăng chức Thống chế, vẫn coi đồn Uy Viễn. Khi trở về cho 10 lạng vàng, 30 lạng bạc, 200 quan tiền, 1 bộ mũ áo đại triều, rồi sai đem 1.000 lính đồn đi đóng ở thành Nam Vang. Năm thứ 18, Nguyễn Văn Tồn đốc lính khơi sông Vĩnh Tế. Minh Mạng năm đầu (1820) thì chết, sai người tới dụ tế, cho cây gấm Trung Quốc, 20 tấm vải, 100 quan tiền, cấp cho 7 tên phu coi mộ. Năm thứ 8, con là Vỵ xin truy cấp cho sắc tặng, bèn được truy tặng làm Thống chế.

Khu lăng mộ của Nguyễn Văn Tồn nằm trên một khu đất có diện tích 8000m2, gồm nhiều công trình kiến trúc: hồ nước, nhà võ ca, nhà tiền tế, đền thờ và khu lăng mộ. Lăng mộ xây bằng hợp chất có bình đồ hình chữ nhật, kích thước dài 12,5m, rộng nhất 8,2m, được bao bọc bởi hệ thống tường thành cao dần từ ngoài vào trong (trung bình từ 0,6m đến 1m). Từ ngoài vào trong bắt đầu với cửa trước với 2 trụ biểu hình vuông (dạng đấu vuông thót đáy) trên có gắn tượng sư tử, kích thước 0,53mx0,53m, cao 1,2m chạy mở theo theo tường thành, vát góc ở hai đầu gấp khúc của tường, cửa trước mộ rộng 2,75m. Án ngữ cửa trước khu lăng mộ là một bình phong tiền ở giữa thụt sâu vào trong so với cửa mộ khoảng 0,5m, chừa lối đi mở sang hai bên vào sân tế, kích thước dài 2,43m; rộng 47cm, cao 1,65m. Sau bình phong tiền là khoảng sân tế, diện tích sâu 3,3m; rộng 6m. Tường thành ở khoảng giữa sân tế này có 2 trụ biểu nối với hai trụ biểu phía sau của phần tường trước mộ tạo thành một dạng bình phong thấp – dạng sập thờ tả hữu ở hai bên. Sau khoảng sân tế này là phần cửa mộ với hệ thống tường và 4 trụ biểu dàn ngang. Hai trụ biểu ở giữa mở ra cửa mộ rộng 2,3m; kích thước các trụ biểu này 0,5mx0,5m, cao 1,92m. Giữa các trụ biểu ở cửa mộ theo hàng ngang, trên tường thành có đắp hình mô hình dạng khám thờ cách điệu, trên nóc mô hình này có gắn tượng nghê men xanh, gốm Sài Gòn. Sau cửa mộ 1,2m là nấm mộ (mui luyện) dạng song táng trên mộ tấm đan kích thước dài 3,6mx3,75m,  dạng hình chữ nhật giật cấp, mộ Nguyễn Văn Tồn bên trái (tả nam hữu nữ) cao hơn mộ phu nhân khoảng 0,1m. Cả hai nấm mộ đều có đúc sập thờ ở phía trước. Riêng nấm mộ của Nguyễn Văn Tồn, sau sập thờ đúc hộp bia mộ có dạng mô hình tam sơn, trong đó ở chính giữa đúc ô hộc hình chữ nhật tạo thành bia. Trên bia có khắc chìm chữ Hán với nội dung: “Dung Ngọc Hầu Tiền Quân Thống Chế Điều bát Tướng Quân Nguyễn Văn Tồn tướng quân chi mộ. Sanh ư thất lục tam niên (1763) tại Trà Vinh. Chung ư Canh Thìn niên chánh nguyệt sơ tứ nhật (ngày 4 tháng 1 năm 1820). Hai bên có dạng cách điệu của cuốn thư, trên đó đắp nổi hình hoa văn lá hoá rồng cách điệu và chữ Hán ở hai bên nội dung: “Hách hiển linh uy; Hương phi vô thần”. Sau nấm mộ 0,9m là tường hậu của khu lăng mộ cũng là một bình phong hậu được làm theo kiểu giả lợp ngói âm dương với các đao mái uốn cong cách điệu một số hình xi vĩ, đầu kìm, đặt trên dạng một sập thờ chân quỳ…mặt trước bình phong hậu có chia thành các ô hộc chìm, trên đó không còn dấu hiệu của chữ Hán hay đắp nổi trang trí như nhiều khu lăng mộ khác. Ngoài ra, ở một số đầu trụ biệu và các điểm tiếp xúc giữa trụ biểu với tường thành có đắp nổi một số hình dạng con cù, cá sấu (gần giống với kỳ đà)…Phía trong tường thành khu nấm mộ hai bên đều có 5 ô hộc đối xứng, trong đó đắp nổi hình hoa lá, giỏ trái cây, lư đỉnh, bình bông, đề tài khỉ…một số đã bị bong tróc không còn nhận diện được hình dáng nguyên thủy. Ở các trụ biểu của khu lăng mộ, trên một số mặt có các ô hộc trang trí hoa lá và câu đối…


Lăng Nguyễn Văn Tồn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1996.

Từ bố cục mặt bằng tổng thể, vật liệu kiến trúc hợp chất, các hình thức trang trí kiến trúc, thông tin trên bi ký cho thấy đây là một khu lăng mộ mang đặc trưng của các lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn ở Nam Bộ, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, có thể so sánh với một số lăng mộ các quan đại thần triều Nguyễn khác như: Lăng Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu, Phạm Quang Triệt, ...(Tp.Hồ Chí Minh); lăng Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Khắc Tuấn (Long An); lăng Trịnh Hoài Đức (Biên Hòa); Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc – An Giang)…

Đặc biệt, khu lăng mộ gắn liền với danh nhân Nguyễn Văn Tồn – một người Khmer ở Nam Bộ được triều đình Nguyễn trọng dụng và đã có công lao lớn trong việc khai phá vùng đất Nam Bộ, tham gia cùng với Thoại Ngọc Hầu chỉ đạo đào kênh Vĩnh Tế nổi tiếng đã được khắc ghi trên Cửu Đỉnh ở Huế, khi mất Ông được xây dựng lăng mộ theo kiểu thức của triều đình Nguyễn mà không theo các hình thức táng tục của người Khmer bản địa. Điều này cho thấy một hình thức mới là triều đình Nguyễn đánh dâu thêm phần xác lập chủ quyền của Việt Nam trên một phương diện mới  - Mộ táng  ở Nam Bộ Việt Nam.

Hàng năm, vào những ngày đầu năm, cộng đồng cư dân Việt, Hoa, Khmer tập trung về Lăng Nguyễn Văn Tồn tổ chức cúng giỗ, tổ chức lễ hội với nhiều hình thức mang nhiều giá trị văn hóa nhằm ghi nhớ công lao, tôn thờ Ông như một nhân vật lịch sử, một vị thần bảo hộ cho dân sinh trong vùng.

Tài liệu tham khảo
1.    Bảo tàng Vĩnh Long 2004: Di tích lịch sử văn hóa Vĩnh Long. Vĩnh Long.
2.    Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long 1996: Lý lịch di tích Lăng Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn.Tư liệu Ban quản lý di tích tỉnh Vĩnh Long.

Nguồn: http://baotanglichsuvn.com/la-ng-thong-che-dieu-bat-nguyen-va-n-ton-xa-thien-my-huyen-tra-on-tnh-vinh-long-310.html

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Tình hình các thiết chế văn hóa của Tp.HCM

Theo báo Pháp luật Tp.HCM, dẫn nguồn từ Sở Văn hóa Thể theo và Du lịch Tp.HCM (Sở VH-TT&DL TP) trước ngày 17/08/2012 Tp.HCM có tất cả bốn loại thiết chế văn hóa cấp thành phố: trung tâm văn hóa, nhà văn hóa; nhà hát, rạp hát; bảo tàng và thư viện.

"Ngoại trừ Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, hầu hết thiết chế văn hóa cấp TP trên địa bàn TP.HCM đều sử dụng cơ sở vật chất cũ được xây dựng từ trước năm 1975. Với tám đơn vị biểu diễn nghệ thuật, hiện chỉ có Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang và Nhà hát Kịch TP.HCM có nơi biểu diễn, còn lại các đoàn khác đều không có nơi biểu diễn ổn định. Trong bảy bảo tàng của TP.HCM, chỉ có hai bảo tàng có công năng công trình chuyên ngành, còn các bảo tàng khác đều cải tạo từ cơ sở vật chất có sẵn."

Ngoài ra, Sở VH-TT&DL TP.HCM đề xuất chọn Công viên Tao Đàn (quận 1) làm Trung tâm Văn hóa TP.HCM để làm nơi tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật cho người dân TP.HCM tại buổi khảo sát về thiết chế văn hóa TP của Ban Văn hóa - Xã hội HĐND TP.HCM chiều 16/08/2012; bên cạnh đề xuất HĐND TP.HCM xem xét cấp vốn xây dựng một số nhà hát, bảo tàng mà Sở đã đề xuất nhiều năm qua; UBND TP.HCM và UBND quận 1 sớm hoán chuyển nhà 69A Lý Tự Trọng (quận 1) giao cho Thư viện Khoa học tổng hợp để làm thư viện thiếu nhi…

Nhà hát nghệ thuật Phương Nam (Trụ sở hoạt động và làm việc của nhà hát tại: Rạp Nhân Dân, số 372 - 374 đường Trần Phú, P.7, Q.5) là thiết chế văn hóa mới nhất được thành lập theo quyết định của Ủy ban Nhân dân Tp.HCM vào ngày 21/10/2013, trên cơ sở hợp nhất Đoàn xiếc thành phố (được thành lập từ năm 1986) và Đoàn Nghệ thuật múa rối thành phố (được thành lập từ năm 1977) và tiếp tục kế thừa các nhiệm vụ của hai đơn vị tiền thân. Cụ thể là tổ chức các chương trình biểu diễn xiếc, múa rối, nghệ thuật tổng hợp; bảo tồn và phát triển nghệ thuật xiếc và nghệ thuật múa rối; đồng thời kết hợp xiếc, múa rối với các loại hình nghệ thuật khác như ca, múa, nhạc, kịch, điện ảnh để xây dựng các chương trình nghệ thuật phong phú, đa dạng. Ngoài ra, nhà hát còn tổ chức trao đổi học tập kinh nghiệm với các đơn vị nghệ thuật, các tổ chức văn hóa, các nhà hát trong nước và nước ngoài; biểu diễn phục vụ văn hóa đối ngoại, giao lưu văn hóa.

Trong quá khứ, Đoàn xiếc thành phố từng nhiều lần phải di dời trụ sở. Trong khi đó, Đoàn Nghệ thuật múa rối từng lâm vào cảnh không rạp không nhà, trong đó lần mới nhất là kể từ tháng 04/2010 khi rạp Măng non giải tán vì khu Eden (trên đường Đồng Khởi, quận 1) bị giải tỏa và kể từ thời điểm đó đoàn chỉ có một văn phòng tạm tại Trung tâm Văn hóa quận 11 (thuê trong hai năm), điểm biểu diễn tạm tại Trung tâm Văn hóa quận 1 ở sân nhà thi đấu Nguyễn Du (thuê trong một năm). Tình trạng đó đựoc nhận định là làm cho nghệ thuật múa rối khó có đựoc thế hệ kế thừa cũng như ảnh hưởng đến sức sáng tạo, linh động trong tổ chức biểu diễn. Trong khi đó, đã có nhiều hội thảo, cơ quan chức năng đã lên tiếng về việc du khách đến Tp.HCM không có chỗ giải trí, thưởng thức nghệ thuật dân tộc.

*Ảnh minh họa: Liên hoan Múa rối lần VII và Trò chơi dân gian lần III khu vực phía Nam năm 2013.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Một mảnh lịch sử qua bài vọng cổ

Bài này nhằm khảo sát bài hát "Tiếng độc huyền trên Bắc Cần Thơ". Độc huyền ở đây là nói tới đàn bầu của Việt Nam, không phải các loại đàn một dây khác. Tìm hiểu thêm về đàn bầu qua bài viết "Đàn bầu – biểu tượng đặc sắc và độc đáo tâm hồn Việt" của tác giả Thế Văn.

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Dạ cổ hoài lang: bài ca vua trên sân khấu cải lương Nam Bộ

“Dạ cổ hoài lang vừa mang niềm riêng của tác giả, vừa chất chứa nỗi buồn chung của thời đại vong quốc. Buồn nhưng không bi lụy, nét nhạc lạc quan trỗi lên ở cuối bài khiến bài ca thấm đượm nỗi lòng của điệu buồi ai oán phương Nam, nhưng lại gợi mở một niềm tin về phận nước. Ở đấy, người nghe cảm nhận được nỗi lòng, thấy được mơ ước, khát khao của chính mình. Chính vì vậy, qua bao thế hệ, bao tầng lớp khắp vùng Nam bộ, kẻ sĩ lẫn dân quê từng gõ nhịp hát Dạ cổ hoài lang để nghe tiếng lòng thầm thì, buồn vui và hy vọng”, cảm nhận bài Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sĩ (NS) Cao Văn Lầu ra đời cách đây 91 năm của nhiều người dân Nam bộ là như thế..

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Vài nét về đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam bộ Việt Nam. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc ngày xưa. Người đờn người ca không muốn giữ nguyên xi như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút ta hòa vào trong chúng ta khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt khác, do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn nên các điệu các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích.

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Mekong - dòng sông quốc tế

Sông Mekong là dòng sông quốc tế dài 4,800 km phát nguồn từ vùng Thanh Hải, Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Miến Ðiện, Lào, Thái, Campuchia và Việt Nam ra biển Ðông. Lưu vực sông Mekong rộng 795,000 km2 và lưu lượng ra biển trung bình 15,000 m3/giây, 775 tỉ m3/năm - thứ tám trên thế giới. Nước Mekong chảy về hạ nguồn từ 2,000 m3/giây vào mùa hạn và tăng lên 50,000 m3/giây vào mùa lũ hay tăng lên 25 lần; chảy về Tonle Sap tăng 50 lần.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...