Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Hai phiên bản cách nhau 10 năm của "Giọng hò phương Nam"

Phiên bản VCD năm 2003


Phiên bản trực tiếp ngày 18/11/2013
(Hò ơ...
Đất miền Nam thênh thang sông nước
Vung mái chèo ta ngược về đây
Đồng hoang gió lộng nơi này bàn tay dầu dãi ơ hò...
Hò ơ...
Bàn tay dầu dãi nên ngày phồn vinh)* (phiên bản trực tiếp không ngâm thơ)

Thương lắm con đò. Thương quá câu hò
Gió về Tiền Giang, ai hát vui ngày thái bình
Sóng cồn Hậu Giang nuôi đất nuôi đời ái tình.

Từ Đồng Nai gió qua Bến Thành
Đồng chua nay hóa đất tươi mỡ màu.
Thành Gia Định xưa, nay phố thị phồn vinh
Biết bao bàn tay vun đắp ruộng đồng
Chốn xưa còn vang khúc hát phương Nam hành

Vui chí tang bồng
Con sáo băng đồng

Xuống vùng Cần Thơ ghé bến Ninh Kiều mơ màng
Tới rừng Cà Mau đất U Minh ngàn năm dãi dầu.
Về Gò Công, Mỹ Tho xuôi dòng

Trà Vinh xuống Sóc Trăng nước dâng trên đồng.
Lời thơ Lục Vân Tiên nhớ Đồ Chiểu xưa.
Thất Sơn cùng Ba Thê đứng giữa trời soi bóng dòng Vĩnh Tế
Nhớ bao sức người.

Từ miền xa ta tới đây
Ba trăm năm nắng mưa không ngại* (phiên bản trực tiếp: Anh em ta sống chung chan hòa)
Đôi chân ta bước qua tháng năm dài* (phiên bản trực tiếp: Kinh, Chăm, Hoa với Khmer một nhà)
Từng bàn tay ta đắp xây
Thiên nhiên dang cánh tay nơi này
Đưa nhau ta tới đây sum vầy.

Từ đồng hoang nên áo cơm
Em theo anh tới đây xây đời
Ta bên nhau khó khăn cũng không rời
Rồi ngày nay, thêm đắm say
Quê hương qua gió giông thăng trầm
Tương lai đang chứa chan xanh mầm.

Nay tới Sài Gòn, sông phố vuông tròn
Vũng Tàu Hà Tiên biển xanh mời chân lữ hành
Mỹ Thuận cầu giăng, cáp nghiêng mình trên đất lành
Vượt trùng dương ghé qua Côn Đảo
Mầm xanh sức sống nay xóa đi gông xiềng
Về thăm Phú Quốc no ấm đời bình yên
Cát Tiên rừng xanh như chốn Tiên Bồng
Cây trái miền Nam nghe lúa reo trên đồng

Thương lắm con đò. Thương quá câu hò
Nước dòng Cửu Long thơm ngát vui ngày thái bình
Sữa mẹ phù sa nuôi đất nuôi đời ái tình.

Người về đây sáng trưa giang hà
Đàn con trung dũng chân đất đứng giữa trời
Hò xự xang xê cống câu hát vọng cổ xưa
Tới đây cùng dọc ngang với bao người
Cho thỏa lòng tung chí gái trai một đời.

---

Khả năng thứ nhất là chị Trung Hậu sửa lời cho phù hợp.

Khả năng thứ hai là tác giả đổi ý muốn sửa lại.

Khả năng thứ ba là có hai phương án ngay từ đầu.

Khả năng thứ tư là... ai biết thì giải thích dùm.

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Trái tim em trong ba lô - Một bản gia đình ca thời chiến






Chào tạm biệt quê hương lên đường ra biên giới
Ba lô anh mang trên vai mang trái tim em đi cùng trên đường hành quân xa
Qua rừng sâu dốc đá ba lô thì thầm bên tai bước nhanh lên mình nhé. 
Đêm về nhìn trăng lên biên thùy thiêng liêng quá
Trăng khuya ru em nghe chăng
Và sớm mai ta lên đường quân thù từ bên kia đêm ngày mong cướp phá
Ba lô làm bệ cho anh đánh tan quân bành trướng. 
Biên giới ngàn mến thương từng nắm đất quê hương bao máu xương
Đã đổ biết bao đời ngàn thuở đất Hùng Vương tiếng trống Chi Lăng
Năm xưa đang còn đó quân thù mong gieo gió là anh ra đi chưa về
Trên đường hành quân xa có em đang đi bên anh
Trên đường hành quân xa trái tim em trong ba lô.
*Thông tin tác giả:

Nhạc sĩ Tăng Minh Thành (bút danh khác là Hải Ly) sinh ngày 19/08/1934 tại Mỹ Xuyên, Sóc Trăng. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Khu 8 với cây súng và cây đàn violin rồi tập kết ra Bắc. Sau khi tốt nghiệp bộ môn sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Hà Nội), ông về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Sau ngày thống nhất đất nước ông đảm nhiệm công tác biên tạp âm nhạc tại Đài Tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đến lúc nghỉ hưu.

Ông viết ca khúc không nhiều nhưng một số ca khúc để lại ấn tượng mạnh mẽ như: Trái tim em trong ba lô, Mùa Xuân trong mắt em, Về quê mẹ, Bạn đời ơi, Chim sơn ca trên đảo Sơn Ca, Gửi về mẹ Huế thân thương, Bông hồng trắng... Ông còn viết một số tác phẩm khí nhạc. Tiêu biểu là chủ đề về biến tấu cho violon và piano, về anh hùng Võ Thị Sáu.

Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, ông cũng đã giành được nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật, giải thưởng âm nhạc. Ông nhận được nhiều huân chương: Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất.

Ông là thân sinh của nghệ sĩ violin Tăng Thành Nam, soloist và concertmaster của dàn nhạc giao hưởng Tp.HCM. Ông qua đời hồi 13g ngày 04/02/2007 sau một thời gian mắc trọng bệnh.

*Thông tin khác:

1. Họ Tăng là một họ thuộc dạng hiếm xuất hiện đầy đủ ở Việt Nam, Trung Quốc (Hán tự: 曾, Bính âm: Zẽng), Triều Tiên (Hangul: 증, Romaja quốc ngữ: Jeung). Theo định nghĩa hiện tại thì những người mang họ Tăng ở Việt Nam là người "gốc Hoa". Trong danh sách "Bách gia tính" họ này chỉ đứng thứ 384 nhưng người mang họ Tăng đông thứ 32 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006.

2. Bài hát "Trái tim em trong ba lô" với giai điệu, tiết tấu nhanh, chậm khỏe khoắn, hùng tráng và dạt dào tình cảm có nội dung diễn tả tình cảm và suy nghĩ của người chiến sĩ Việt Nam đi chiến đấu "đánh tan quân bành trướng" tức là chống lại cuộc "Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam" của giới lãnh đạo diều hâu Trung Quốc vào thời kỳ 1979-1985 đẩy nhiều số phận người "gốc Hoa" ở Việt Nam vào một biến động di cư lớn. Bài hát có thời gian lưu hành khoảng 6 năm (đến năm 1985) trước thời điểm Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Bài hát thể hiện đậm nét tâm hồn, tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi thiết tha cháy bỏng của người lính biết hi sinh và biết đợi chờ. Trong ba lô của người chiến sĩ luôn đong đầy những kỉ vật của người thân yêu, có thể đó là tấm khăn rằn, chai dầu gió, chiếc khăn mùi xoa thêu mơ ước và tâm tư của người ở lại. Những vật ấy tuy tầm thường nhưng với người chiến sĩ ra đi làm nhiệm vụ thiêng liêng thì đó là vô giá. Chúng là hình hài, là bóng dáng, là trái tim của người yêu được cất giữ theo các anh suốt cuộc hành trình.

Đêm cuối chia tay người yêu, gia đình để sớm mai lên đường ra biên giới, cẩn thận đặt vật kỉ niệm trong chiếc ba lô gởi gấm những ước mơ, hoài vọng của người hậu phương về một ngày mai tươi sáng. Họ sẵn sàng hi sinh tình yêu lứa đôi của mình để hòa chung vào tình yêu đất nước, bởi chỉ có tự do, hòa bình thì tình yêu đôi lứa mới thật sự trọn vẹn.

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Vũ khúc con ngựa

Điệu múa mô phỏng chuyển động của con ngựa không phải là mới. Có thể tạm phỏng đoán những chiến binh hay "văn công" của đoàn kỵ binh Nguyên Mông khổng lồ của thế kỷ XIII là những người ít nhiều có sự tiếp xúc với ý tưởng này. Trong âm nhạc Việt Nam, điệu múa mô phỏng chiến binh cưỡi ngựa có thể cũng được nghệ thuật hóa từ khi xuất hiện các bài hát dân gian như "Lý ngựa ô".

Thử so sánh hai phim ca nhạc tương tự nhau giữa một thí sinh Đồ rê mí 2011 là "Lý ngựa ô" do bé Tuyết Nhi trình bày (có mặt trên Youtube từ ngày 28/08/2011 và tại thời điểm ngày 22/11/2012 chỉ đạt 295195 lượt xem) và phim ca nhạc "Gangnam Style" (tạm dịch: Phong cách Giang Nam, có mặt trên Youtube từ ngày 15-07-2012 và tại thời điểm 22/11/2012 đạt 781346424 lượt xem, trong đó có 5289383 lượt thích, 315286 lượt không thích). Vậy điểm khác biệt đầu tiên nằm ở chỗ công nghệ truyền thông.



Phim ca nhạc của nghệ sĩ Psy (tên thật Park Jae Sung) cũng chỉ là một sự khai thác khía cạnh này với sự kết hợp âm nhạc điện tử và những hình ảnh kích thích tâm lý giới tính và tìm kiếm sự khác lạ. Trong đó, điệu nhảy phỏng theo dáng cưỡi ngựa, lắc người, đập tay vào nhau của một nghệ sĩ có thân hình mũm mĩm với giai điệu có điệp khúc đơn giản: "Oppan Gangnam Style" (tạm dịch: Anh có phong cách Gangnam).
Gangnam (âm Hán Việt là "Giang Nam") có nghĩa đen là phía nam con sông. Từ những năm 1970, Gangnam bắt đầu phát triển bùng nổ từ những ngôi nhà hoang hóa bao bọc bởi những rãnh thoát nước và vùng đất nông nghiệp rộng lớn. Hiện tại, giá trung bình một căn hộ ở Gangnam khoảng hơn 700.000 USD (14,5 tỷ đồng) - con số mà một hộ gia đình ở Hàn Quốc mất khoảng18 năm để tích góp. Sự giàu có nhanh chóng đã thu hút về Gangnam các cửa hiệu thời thượng nhất, các câu lạc bộ, các địa chỉ phẫu thuật thẩm mỹ cùng nền giáo dục tư hàng đầu dành cho con nhà giàu... Đây cũng là nơi nổi tiếng của tiệc tùng xa hoa, nơi người dân phung phí tiền của vào các mặt hàng xa xỉ để làm nổi bật sự giàu có của họ. Gangnam trở thành địa chỉ được thèm muốn nhất ở Hàn Quốc nhưng cũng khiến người ta nảy sinh sự đố kỵ, dị ứng. Và "Gangnam Style" - một khái niệm phổ biến ở Hàn Quốc - chính là để chỉ phong cách sống của tầng lớp người giàu mới nổi này.
Điệu nhảy được sử dụng trong bài hát nhằm mục đích giễu nhại châm biếm lối sống phô trương của tầng lớp nhà giàu mới nổi quen tiệc tùng xa hoa ở quận Gangnam, một khu phố giàu mạnh nhất của thành phố Seoul (Nam Triều Tiên). Điểm khác biệt thứ hay là sự tích hợp những trào lưu của xã hội, với việc nhập vai một anh chàng muốn chứng tỏ phong cách "đẹp, sành điệu, sang trọng, cao nhã, quý phái" của giới thượng lưu nhưng hành động thực tế lại là hình ảnh hoàn toàn đối lập: rất bình dân và thô tục, hoàn toàn không hề có một chút phong cách "Gangnam" nào. Thay vì nhảy ở các hộp đêm, anh tiệc tùng với những người về hưu trên một chuyến xe bus, thay vì tập thể dục trong câu lạc bộ thể hình cao cấp, anh tập trong một phòng tắm hơi với hai thành viên băng đảng xã hội đen xăm trổ đầy mình. Trong khi đó anh vẫn liên tục vỗ ngực tự xưng "Anh có phong cách Gangnam" kể cả lúc... đang ngồi trong nhà vệ sinh. Một bài hát tưởng như là ngớ ngẩn với những động tác ngớ ngẩn, những vũ công có bề ngoài ngốc nghếch của một "gã quê mùa học làm sang". Nhưng có một thông điệp rõ ràng và nó được đón nhận nồng nhiệt.

(thông tin có tham khảo bài viết của tác giả Song Ngư)

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà: Thiên tình sử nước Nam

Trong văn học nước Nam, có những chuyện tình có gốc tích Trung Quốc nhưng vì đã quá thân thuộc nên dân ta có cảm giác là của nước mình, như Kim trọng – Thúy Kiều, Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga. Nhưng cũng có trường hợp thiên tình sử rất đẹp của nước Nam, nhưng lại bị tưởng là của Trung Quốc. Người mộ điệu cải lương nào mà không biết bài ca cổ “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà” của soạn giả Viễn Châu.

Cách đây hơn 40 năm, khi bắt đầu biết đọc chữ, tôi đã dùng mấy đồng tiền ăn quà để mua tờ giấy in bài ca cổ này bày bán trên nền chợ trước trường học. Tôi đã thuộc lòng và thỉnh thoảng lại hát bài ca nói về chuyện tình lãng mạn và bi tráng đẹp như cổ tích của Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà. Thế nhưng, tôi cũng như nhiều người mộ điệu cải lương, cứ lầm tưởng đây là tích truyện Tàu nào đó thuộc đời Tống, đời Đường, giống như Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Lữ Bố - Điêu Thuyền, Phạm Lãi – Tây Thi… Cho tới một lần, tôi về thị xã Gò Công (tỉnh Tiền Giang), ghé thăm miếu thờ Võ Tánh, người đã phò chúa Nguyễn Ánh gầy dựng nên cơ nghiệp nhà Nguyễn, và thú vị biết rằng câu chuyện Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà là của dân mình, rất gần gũi với đất Nam bộ quê tôi.

Về Gò Công nghe chuyện Võ Đông Sơ

Từ thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang) đi về phía biển gần 40 cây số là tới thị xã Gò Công, vùng đất đã từng cống hiến cho triều Nguyễn 2 bà hoàng hậu là bà Từ Dũ và Nam Phương Hoàng Hậu. Tiếp tục đi về hướng biển thêm khoảng 5 cây số là đến ấp Gò Tre – xã Long Thuận – thị xã Gò Công. Đây là vùng đất nổi tiếng với trái sơ ri. Bên con đường nhựa nhiều xe cộ qua lại, cạnh gốc cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, giữa khu vườn cây dại mọc um tùm là ngôi cổ miếu nhỏ dột nát, rêu phong, trên tấm biển ghi: Di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh – Miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh, thân sinh của chàng trai Võ Đông Sơ trong câu chuyện tình nói trên.

Sử sách ghi rõ: Võ Tánh sinh năm 1768, quê gốc ở làng Phước Tỉnh thuộc tỉnh Trấn Biên (nay là Bà Rịa – Vũng Tàu). Cha mẹ mất sớm, Võ Tánh cùng với người nhũ mẫu trôi dạt về vùng Gò Công ngày nay. Nhờ sức khỏe hơn người, Võ Tánh khi lớn lên trở thành chàng trai khỏe mạnh, giỏi võ và gan dạ. Vùng Gò Công khi ấy còn nhiều cọp, cá sấu, Võ Tánh đã đã tập hợp thanh niên trong vùng thành lập “đoàn quân nghĩa dõng” tổ chức đánh cọp, diệt cá sấu để đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Vùng đất một bên là biển, một bên là rừng này cũng là nơi tụ tập, hoạt động của nhiều băng nhóm trộm cướp, “đoàn quân nghĩa dõng” của Võ Tánh cũng thường xuyên trấn áp trộm cướp, trừ gian diệt bạo, giữ an lành cuộc sống cho người dân vùng Gò Công.

Vùng đất heo hút Gò Công không trói buộc nỗi chí trai, Võ Tánh đã cùng “đoàn quân nghĩa dõng” do mình tổ chức giương cờ phò Chúa Nguyễn Phúc Ánh trong cuộc đối đầu với anh em nhà Tây Sơn. Sau khi lập nhiều chiến công, Võ Tánh được Chúa Nguyễn Ánh gả em gái là công chúa Ngọc Du, họ có được 1 đứa con trai đặt tên là Võ Đông Sơ.

Miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh.
Nhờ lập được nhiều công trạng, Võ Tánh rất được Chúa Nguyễn Ánh tin dùng, được giao trấn thủ thành Bình Định, là thành tiền tiêu, có ý nghĩa chiến lược trong cuộc đối đầu Nguyễn Ánh – Tây Sơn. Đến khi quân Tây Sơn bao vây thành với lực lượng hùng hậu, trong khi lực lực cứu nguy của Nguyễn Ánh đã bị chia cắt, biết không thể đương đầu trong cuộc chiến không cân sức, Võ Tánh đã chủ động gửi thư cho quân Tây Sơn xin đừng tàn sát binh sĩ, ông sẽ đầu hàng và nộp thành.

Được sự chấp nhận và cam kết từ phía Tây Sơn không giết hàng binh, ngày 7.7.1801 Võ Tánh đã uống chung rượu tiễn biệt với binh sĩ, rồi lên trên tường thành tự thiêu trước sự chứng kiến của quân sĩ hai bên. Các tướng lĩnh Tây Sơn không chỉ giữ đúng lời hứa không giết hại binh sĩ bại trận, mà còn tỏ thái độ khâm phục nghĩa cử anh hùng của Võ Tánh. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi Vua vào năm 1802, một trong những quyết định đầu tiên là  truy tặng Võ Tánh danh hiệu “Dực vận Công thần Thái úy Quốc công”. Về sau Vua Minh Mạng truy phong Võ Tánh là Hoài Quốc Công.

Sau khi Võ Tánh qua đời, người dân Gò Công đã lập miếu thờ để ghi nhớ công ơn của ông đối với vùng đất này cũng như chí khí anh hùng của ông khi một mình tự thiêu để cứu ba quân. Về sau, chàng thanh niên Võ Đông Sơ khi đã trưởng thành đã một mình phi ngựa từ Bình Định vào Gò Công thăm quê cha và ghé đốt nhang, ngủ đêm trong ngôi miếu thờ Hoài Quốc Công Võ Tánh. Hàng năm vào các ngày 26 và 27 tháng 5 âm lịch, người dân Gò Công tổ chức cúng Võ Tánh khá tươm tất như là một lễ hội nhỏ trong vùng. Năm 2005 miếu thờ Võ Tánh được công nhận Di tích Văn hóa Lịch sử cấp tỉnh.

Tình sử Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà

Tôi đã một lần về Gò Công ở đêm để dự ngày giỗ Hoài Quốc Công Võ Tánh. Giỗ Võ Tánh thường được Ban Quản trị ngôi miếu tổ chức từ chiều hôm trước đến trưa hôm sau. Đêm hôm đó bao giờ cũng có chương trình đờn ca tài tử kéo dài đến tận khuya. Có một bài hát không thể thiếu trong chương trình ca hát là bài Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà.

Đã bao lần nghe bài hát này với giọng hát của nam danh ca Minh Cảnh, nhưng khi được nghe hát ngay dưới miếu thờ Võ Tánh, nơi đã từng đón bước chân Võ Đông Sơ, tôi thấy cảm xúc dâng trào: “Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi - Đường dài mịt mùng em không đến nơi - Mây nước buồn cơn lửa binh - Hết kể chuyện chung tình – Khóc than riêng em một mình…Trời ơi bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà!”.

Những người cao tuổi còn hát được trích đoạn trong vở tuồng Giọt máu chung tình (cũng nói về chuyện tình Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà) từng rất nổi tiếng vào thập niên 1930 do đoàn hát Huỳnh Kỳ của Bạch công tử Lê Công Phước dàn dựng, vai Bạch Thu Hà do chính cô Bảy Phùng Há thủ diễn.

Vào khoảng đầu thập niên 1960, ở Sài Gòn xuất hiện cuốn sách nhỏ (có hình minh họa) viết về tình sử Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà. Cuốn sách ghi rõ: Võ Đông Sơ là con của Hoài quốc Công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du; Bạch Thu Hà là con quan Tổng trấn Tây Thành. Sau khi Võ Tánh và Ngọc Du lần lượt qua đời, Võ Đông Sơ sống với người chú ruột tại Bình Định.

Khi Triều đình mở khoa thi để chọn tướng tài dẹp giặc ngoài biển Đông, Võ Đông Sơ lên đường ứng thí. Dọc đường, chàng trai họ Võ đã ra tay đánh cướp cứu tiểu thư Bạch Thu Hà trên đường đi lễ chùa gặp nạn. Dưới ánh trăng rằm, bên ngôi cổ tự, hai người đã thề nguyện chuyện trăm năm, hẹn ước về một cuộc trùng phùng… Sau đó Võ Đông Sơ thi đỗ và lãnh quân đi dẹp giặc. Ở nhà Bạch Thu Hà bị gia đình bắt phải lấy chồng nên đã bỏ trốn khỏi nhà, thân gái phiêu bạt với nhiều gian truân.

Khi hay tin Võ Đông Sơ tử trận, Bạch Thu Hà quyên sinh để giữ trọn niềm trung trinh với người tình. Chuyện tình có thật Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà gần giống với chuyện tình trong văn học Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga được nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau đó, nhưng chuyện tình Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga kết thúc “có hậu” hơn, dù trải qua bao thăng trầm, cuối cùng đôi “trai tài gái sắc” đã có cuộc trùng phùng, chứ không “vĩnh viễn chia ly” như Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà.

Nhà hội (trong quần thể miếu thờ Võ Tánh) trong tình trạng hư hỏng nặng.
Từ câu chuyện tình này, soạn giả Viễn Châu đã viết 2 bài ca cổ “Võ Đông Sơ” (Minh Cảnh hát) và “Bạch Thu Hà” (Lệ Thủy hát), trong đó bài “Võ Đông Sơ” đã trở nên quen thuộc với mọi người yêu thích ca cổ, trong đó có những đoạn: “Bạch Thu Hà, Bạch Thu Hà ơi! Nàng đã bao phen vượt suối trèo non để giữ vẹn tiết trinh, ta mấy bận lao mình trong nắng gió. Chuyện hàn huyên chưa cùng nhau cạn tỏ, thì giọt máu chung tình đã nhuộm thấm chinh y. Từ đây hết nợ hết duyên, hết ân hết ái, lưỡi gươm thiêng ta xin gởi lại cho người yêu lý tưởng Bạch Thu Hà…”.

Chuyện tình đẹp là chuyện tình buồn

Những chuyện tình kết thúc trong đau thương như “Romeo – Juliet” (ở nước Anh), “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” (Trung Quốc) hay “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà”, “Lan và Điệp” (ở nước ta) luôn là niềm cảm hứng cho các môn nghệ thuật và sống mãi với thời gian.

Người đời ghi nhớ những câu chuyện tình đó vì nó là biểu tượng của sự thủy chung và quá đau thương. Nhưng theo tôi, còn có lý do quan trọng khác nữa là: ngầm nhắc những người trong cuộc của các mối tình trọn vẹn hãy biết quý trọng hạnh phúc mà mình đạt được! Với ý nghĩa đó, tình sử “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà” sẽ có giá trị mãi với đời. Người đời sau sẽ còn hát bài ca về câu chuyện tình của họ như là cách bày tỏ khát vọng về hạnh phúc, tình yêu, lòng thủy chung.

Ngôi miếu thờ Võ Tánh lại là một câu chuyện khác. Ngày trước, người dân tự giác lập miếu thờ Võ Tánh như là cách họ bày tỏ lòng biết ơn và ngưỡng mộ đối với người đã có công trấn áp trộm cướp, giữ yên lành cho cuộc sống người dân Gò Công, người đã có hành động anh hùng hi sinh thân mình để cứu ba quân. Họ hàng ngày nhang khói, hàng năm cúng giỗ tươm tất, chăm sóc chu đáo, giữ gìn khang trang ngôi miếu (được trùng tu năm 1956)…Thế nhưng, hiện miếu thờ Võ Tánh đang xuống cấp nặng, khu di tích trở nên hoang tàn: nhà hội (kề bên miếu) có thể sụp đổ bất cứ lúc nào; ngôi miếu chính bị dột nát; khuôn viên miếu đầy cây dại…

Nguyên nhân của sự xuống cấp, theo ông Phạm Hồng Hiếu, thành viên Ban Quản trị Miếu Võ Tánh, người trực tiếp hàng ngày nhang khói ngôi miếu, do ngôi miếu đã là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, được sự bảo trợ và quản lý của ngành văn hóa địa phương, người dân không được quyền tùy tiện tác động vào hiện trạng ngôi miếu. Sự vận động đóng góp tu sửa miếu cũng khó hơn trước, do tâm lý chờ đợi nguồn vốn của Nhà nước. Trong khi đó, nguồn vốn của Nhà nước thì có giới hạn, mà tỉnh Tiền Giang nói chung và vùng đất Gò Công nói riêng lại có quá nhiều di tích cần được bảo dưỡng, duy tu.

Như Thủy

Nguồn: http://phunutoday.vn/xahoiol/201105/Vo-dong-So-Bach-Thu-Ha-Thien-tinh-su-nuoc-Nam-bi-tuong-la-cua-Trung-Quoc-1992580/
* Võ Tánh: Trước 1975, Sài Gòn có hai đường Võ Tánh: một thuộc Phú Nhuận (gần khu mộ Võ Tánh, nay là đường Hoàng Văn Thụ), một là phần thuộc quận 1 của đường Nguyễn Trãi hiện nay. Tương tự, ở Đà Lạt có đường Bùi Thị Xuân, Huế có đường Nguyễn Chí Thanh...

Tại đầu ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công, hiện có ngôi đền thờ Võ Tánh mang tên là Võ Quốc Công Miếu.

Một số nơi có đường Võ Tánh hiện nay: thị trấn Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; chợ Biên Hòa, phường Thanh Bình, Tp. Biên Hòa; phường Lê Bình, quận Cái Răng, Tp. Cần Thơ...

Sửa lại từ: http://lyric.tkaraoke.com/18367/Vo_Dong_So_Bach_Thu_Ha.html 
(Hát)
Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi, đường dài mịt mùng em không đến nơi. Mây nước buồn cơn lửa binh, hết kể chuyện chung tình, khóc than riêng em một mình.
Cây tuôn lá xanh xây mồ cho anh, tình đầu bẽ bàng trong cơn chiến chinh. Đưa tiễn nào hay rẽ chia, cách trở hận muôn đời. Nói nữa chi thêm nghẹn lời.
(Ca vọng cổ)
Trời ơi! Bởi sa cơ giữa chiến truờng thọ tiễn nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà. Bạn tình ơi! Đừng hoài công mòn mỏi đợi chờ. Hãy gọi tên anh trong những chiều xuân lạnh khi cánh nhạn bay về cuối nẻo trời xa. Hay những lúc canh khuya tựa rèm châu ngắm áng trăng tà, nàng hãy nhớ đến tháng năm này, có một người yêu đã vùi thây giữa vùng cát trắng.
Ta cảm thấy một vùng trời đất hình như đảo lộn, máu đào tuôn ướt đẫm nhung bào. Ta gọi tên em trong tiếng nấc nghẹn ngào. Đây mới thật là lần chia ly vĩnh viễn, hết mong gì gặp gỡ cùng nhau. Rượu ly bôi ngày ấy tiễn anh đi, hoa lá bay theo vó ngựa phi, có biết đâu buổi tiễn đưa hôm ấy là buổi chia ly nàng chờ đợi mà chi.
Ta cảm thấy máu ngừng trong nhịp thở, rút gươm thiêng mà dòng lệ tuôn sa. Khắc vào cây ba chữ Bạch Thu Hà để kỷ niệm ngày ta không gặp nữa. Tuấn mã ơi! Hãy phi mau về báo hung tin cho quân ta được rõ rằng Võ Đông Sơ đã vùi thây trong gió bụi quan hà. Tiếng kẻng thu quân tắt liệm tự bao giờ. Hoàng hôn phủ trùm lên bãi chiến một vẻ u buồn lạnh lẽo tiêu sơ.
Lá rừng rơi rụng như mưa, phải chăng xây hộ nấm mồ cho ta. Máu hồng theo lệ tuôn sa, nhắc câu chung thủy lòng ta nghẹn ngào.
(Hát)
Máu đào tuôn đẫm ướt nhung bào, chí anh hùng vùi trong kiếm đao. Tóc chiều rơi cuối nẻo biên thùy, ta thấy miền xa rủi cánh quân đi.
(Ca vọng cổ)
Ta muốn kêu lên ba tiếng Bạch Thu Hà. Bạch Thu Hà ơi! Tim ta như ngừng đập, máu tuần hoàn ngưng chảy khắp châu thân. Thôi thôi, lỡ làng tiếng hẹn trăm năm, từ đây nàng có nhớ đến ta, hãy ngâm câu "túy ngọa sa trường quân mạc tiễu, cổ lai kinh chiến kỷ nhân hồi".
Bạch Thu Hà, Bạch Thu Hà ơi! Nàng đã bao phen vượt suối trèo non để giữ vẹn tiết trinh, ta mấy bận lao mình trong nắng gió. Chuyện hàn huyên chưa cùng nhau cạn tỏ thì giọt máu chung tình đã nhuộm thắm chinh y. Từ đây hết nợ hết duyên, hết ân hết ái, lưỡi gươm thiêng ta xin gởi lại cho người yêu lý tưởng Bạch Thu Hà.
(Hát)
Hỡi tình chung ơi! Đường dài mịt mùng em không đến nơi. Mây nước buồn cơn lửa binh, hết kể chuyện chung tình, khóc than riêng em một mình.
Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà 1A
Tác giả: Viễn Châu
(Hát)
Nam: Hự hạ hự hạ hự hạ khói mờ sa trường quê hương lầm than binh lửa. Chí hùng tung hoành thân trai chẳng màng hy sinh.
Nữ: Hôm chia ly chàng ra đi cầm tay hứa ngày trùng hoan. Ai hay đâu tình ly tan duyên trúc mai chia lìa.
Nam: Biên cương trập trùng xa tung vó câu tiếng quân hò reo nay mũi đạn làn tên có mấy ai quay trở về. Này câu giao ước xin gởi bạn tình chung.
(Ca vọng cổ)
Nữ: Trời ơi lạnh lẽo màu tang trước linh sàng ủ rũ. Võ lang ơi hồn anh có nương theo ngọn gió hãy về đây chứng chiếu Bạch Thu Hà. Khóc cảnh lìa tan đất núi lệ chan hòa.
Nam: Bởi thọ tiễn đưa giữa dòng chinh chiến nên giọt máu hồng nhuộm thắm bãi trường sa.
Nữ: Những tưởng buổi tương phùng được về cuộc bước qua cho nghĩa trăm năm vẹn vẻ hương huyền. Ai có ngờ duyên mới trao duyên thì giấc mộng tình đã gặp thiên lệ sử.
Nam: Từ cõi hư vô anh theo gió mây tìm về quê cũ khóc làm chi em hỡi Bạch Thu Hà. Anh đã về đây khi trăng lặn sao mờ.
Nữ: Sao đôi mắt anh nhìn em như đẫm lệ máu anh hùng nhuộm đỏ toàn thân.
Nam: Tỉnh dậy đi em mình cùng cạn nỗi hàn huyên sợ bình minh trở lại mình sẽ chia lìa thương nhớ.
Nữ: Anh về từ đâu sao không nghe vó ngựa đứng lặng bên thềm lã chã lệ sầu tuôn.

Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà 1B
Tác giả: Minh Châu
(Hát)
Nam: Gió hiu hắt máu hồng ướt đẫm chiến bào để nợ núi sông hồn nhẹ bước quê nhà.
Nữ: Trùng khê mãi mãi còn thấy đâu người xưa vó câu đã xa khó mong ngày trùng phùng.
Nam: Còn tìm đâu
Nữ: Còn tìm đâu.
Nam: Phút bên nhau
Nữ: Phút bên nhau.
Nam: Theo gió mây
Nữ: Theo gió mây
Nam: Đến phương nào
Nữ: Lệ khóc cho tình ta đôi ngả hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ lá rơi sao ngỡ như bước chân chàng trở về.
(Ca vọng cổ)
Nam: Bạch Thu Hà.
Nữ: Võ Đông Sơ.
Nam: Bạch Thu Hà ơi anh đâu phải là kẻ sống còn trên dương thế. Mà anh chỉ là hồn ma bóng quế về thăm em trong đêm vắng canh tàn. Giây phút gần nhau rồi cách biệt đôi đường.
Nữ: Trời ơi mới nghe qua như đất bằng sóng dậy còn mong gì tái ngộ hỡi tình lang.
Nam: Kìa tiếng gà đã giục giã gáy vang như báo hiệu bình minh trở lại. Em ơi "túy ngọa sa trường quân mạc tiếu cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Bạch Thu Hà.
Nữ: Võ Đông Sơ. Võ Đông Sơ. Trời ơi cơn ác mộng mới vừa chợt tỉnh thì lệ tình bỗng ràn rụa vành khăn. Có phải hồn anh về đón rước em chăng để duyên đôi lứa được trọn đời hẹn ước.
Nam: Tiếng trống tàn canh từ đâu vọng đến có phải phút chia lìa để vĩnh biệt ngàn thu
Nư: Thôi rồi bể hóa cồn dâu lỡ bề duyên nợ lỡ câu đá vàng.
Nam: Bạch Thu Hà xin vĩnh biệt. Bạch Thu Hà. Âm dương ngăn cách đôi mình giọt máu chung tình em còn nhớ không em.
Nữ: Võ Đông Sơ...

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Hai mươi năm chinh chiến và Trịnh Công Sơn

Theo hồi ký "40 năm hành trình âm nhạc Trịnh Công Sơn, Thái Hòa và tôi" (Trần Tuyết Hoa, tháng 4 năm 2006), thì lời chính thức đã chỉnh sửa của bài hát này mặc dù đã được nhạc sĩ đổi từ "nội chiến" thành "chinh chiến", thế nhưng bao nhiêu năm nay nhiều người vẫn hát là "nội chiến". Chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng thừa nhận "Mình không kiểm soát được bởi mình có ở Sài Gòn đâu!" qua bài viết "Có một Trịnh Công Sơn của Huế" của tác giả Hữu Thu đăng trên Tạp chí Sông Hương số 147 - 05 - 2001. Có lẽ đó là cái tâm lý thời chiến hay tại sức ảnh hưởng của giọng ca Khánh Ly mà người ta ưa chuộng từ "nội chiến" theo khẩu vị của ca sĩ này?

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm chinh chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, để lại cho con
Gia tài của mẹ, là nước Việt buồn.

Nột ngàn năm nô lệ giặc Tàu
một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm chinh chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một rừng xương khô
Gia tài của mẹ, một núi đầy mồ.

Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da
Con chớ quên màu da, nước Việt xưa
Mẹ mong trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha, quên hận thù.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm chinh chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan
Gia tài của mẹ, nhà cháy từng hàng

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
Một trăm năm đô hộ giặc tây
Hai mươi năm chinh chiến từng ngày
Gia tài của mẹ, một bọn lai căng
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình.

Trong bài "Lại gần với nhau", cũng chính Khánh Ly hát, thì lời bài hát được hát chính xác cụm từ "hai mươi năm chinh chiến"
Lại gần, gần lại với nhau
Ngồi gần nhau hơn
Ngồi kề bên nhau
Ðừng bỏ tôi đi
Hai mươi năm rồi
Còn gì cho anh
Còn gì cho tôi
Còn gì cho em
Không còn gì
Không còn gì
Còn lại chiến tranh

Ðêm Sông Hương nhung nhớ
Ngày Cửu Long mơ
Mơ thấy gì
Mơ một ngày Hồng Hà góp Hội Trùng Dương
Ðây quê hương trông ngóng
Và mẹ chờ mong
Mong những gì
Mong tìm lại một ngày giấc ngủ bình yên

Lại gần, gần lại với nhau
Ngồi gần nhau hơn
Ngồi kề bên nhau
Từng hàng thương đau
Trên cây u sầu
Hạt rụng cho anh
Ðể lại cho em
Từ ngày mang tên
Sao còn buồn
Sao thù hằn
Tủi hờn đất đen

Hai mươi năm chinh chiến
Mẹ ngủ không yên
Quanh chúng mình
Ôi từng ngày tuổi này máu lạnh trong xương
Hai mươi năm tôi lớn
Thù hận vai mang
Chưa có lần
Chưa một lần tìm được giấc ngủ bình yên

Gọi thầm gọi thầm với nhau
Gọi thầm tên anh
Gọi thầm tên em
Thù hận xin quên
Đây quê hương mình
Còn gì đâu anh
Còn gì đâu em
Tuổi nhỏ cô đơn
Thôi đừng buồn
Thôi đừng buồn
Tủi lòng núi sông.

Gọi thầm gọi thầm với nhau
Gọi bằng tên anh
Gọi bằng tên em
Mặt trời quê hương
Soi chung da mình
Lại gần đi anh
Lại gần đi em
Lại gần nhau thêm
Không còn gì
Không còn gì
Còn lại trái tim.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Chàng đi theo nước và ông lái đò

"Chàng đi theo nước" và "Ông lái đò" của tác giả Hiếu Nghĩa là hai bài ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp của Việt Nam. Tác giả Hiếu Nghĩa là người chiến tranh đã mang tới cho âm nhạc Việt Nam, ông sáng tác nhạc vào cuối thập niên 1940, rồi chiến tranh cũng mang ông đi mất, gần như không có tư liệu gì thêm, cũng như hai tác giả khác là Nguyễn Mỹ Ca và Võ Hòa Khanh (Nguyễn Đình Toàn). Tới bây giờ chưa có thống kê nào về sáng tác của Hiếu Nghĩa, không rõ ông để lại bao nhiêu bài. Vì trong thời kháng chiến, có những bài được phổ biến tại hậu phương, người trong thành (các vùng tề) không biết và ngay tại các vùng hậu phương không phải nơi nào cũng biết, vì nhiều lý do. Giao thông khó khăn, thành phần giai cấp tác giả, tác giả đã bỏ về thành rồi, trường hợp Phạm Duy chẳng hạn, đều là những lý do hạn chế sự phổ biến các tác phẩm, hoặc giả nếu là những tác phẩm đã được phổ biến rồi, người ta sẽ tìm cách thu hẹp lại bằng biện pháp cấm lưu trữ, trình diễn...

Bài "Chàng đi theo nước" là một trong hai bài hát thực sự được nhiều người biết đến của tác giả Hiếu Nghĩa:
Chiều xuân ấy chàng bước chân đi
Theo hồn nước duyên tình nhớ chi
Bao lời nói lòng em vẫn ghi
Xuân về mai nở vàng ngoài sân mới về

Lòng em say vì nhớ đến chàng
Ðang hiên ngang tung hoành trong khói súng
Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng
Vang vang lời chiến thắng muôn thu
Danh chàng lừng lẫy núi sông

Rồi Xuân đến dưới gốc mai xưa
Nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa
Em chào đón chàng về vinh quang
Bên chàng say đắm một trời Xuân thanh bình



Bài “Ông lái đò” (tên khác “Hình ảnh hai cuộc đời”) gắn liền với giọng ngâm và tiếng hát của ca sĩ Hùng Cường là một trong những bài được coi là đánh dấu cho những sáng tác thời kháng chiến, còn được gọi là nhạc lãng mạn cách mạng (sau năm 1954 ở trong Nam người ta bắt đầu gọi bằng cái tên "tiền chiến", một cái sai mà tới tận bây giờ, không riêng ở hải ngoại, trong nước cũng gọi nhạc lãng mạn cách mạng là "nhạc tiền chiến").

Về hình thức “Ông lái đò” hoàn toàn mới lạ vì trước đó chưa có một ca khúc nào được viết như thế, không hoàn toàn là một bài thơ phổ nhạc, như một truyện kể, một vở kịch nhỏ, có đủ những nút thắt mở, được viết để trình diễn xen kẽ giữa “ngâm” (hoặc “kể”) và “hát”.

“Ông lái đò” thích hợp để biểu diễn ở các sân khấu bất chợt: một sân đình, một góc chợ, một trường học, một nơi nghỉ chân trên dọc đường hành quân chẳng hạn. Người trình diễn có thể mở đầu bằng cách ngâm hay đọc đoạn thơ mở đầu:
Chậm, kể lể
[2/4 Dm]

(nói theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir" thật êm)

Tôi đã gặp một chiều trên bến nước
Ông lái đò ngồi đợi khách sang sông
Gió đưa nhẹ đôi hàng lau lả lướt
Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông

(bắt đầu vào nhạc và hát)

Một dĩ vãng tự nghìn xưa chiếu dội
Mỗi chiều về sống lại giữa hồn ông
Ông chỉ muốn cuộc đời xưa đen tối
Xóa nhòa đi trong cùng tận đáy lòng
Mới ngày nào trên bến sông vắng lạnh
Ðời buồn tênh như lỡ một cung đàn
Thuyền đò ông mang nặng sầu cô quạnh
Lặng lờ đưa bao khách lạ sang sông
Khách qua đò ngày xưa hờ hững quá
Trả công ông để lại một vài xu
Họ với ông hai cảnh đời xa lạ
Sang sông rồi không tiếng phân ưu

Ngâm (hoặc đọc theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir")

Và cứ thế dòng đời trôi lặng lẽ
Bến ngày xưa tưởng ngủ muôn đời
Ông lái đò trong tuổi già bóng xế
Còn mong gì thấy lại ánh hồng tươi
Nhưng một hôm ánh hồng lên rực rỡ
Non sông rền một điệu nhạc oai hùng
Dòng sông xưa chuyển mình lên hăm hở
Muôn hoa tươi căng thẳng nhựa sống hùng

(hát theo nhạc trở lại)

Ông lái đò giờ đây già yếu lắm
Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi
Hồn run mạnh trước cảnh đời tươi thắm
Nỗi mừng vui không thốt được nên lời
Từ hôm đó bến đò ông sống dậy
Bao nhiêu chiều đã đón khách sang sông
Những người khách không giống ngày xưa ấy
Họ về đây hồn nặng trĩu bên lòng

Ngâm (nói theo giọng thơ mới trong cung "Rê unir" thật êm)

Họ về đây bụi vương mình trên nếp áo
Ðường xa xăm tóc lộng gió tơi bời
Họ đi rồi ông thấy buồn ảo não
Vì họ qua bến ấy một lần thôi

(hát theo nhạc trở lại)

Và từ đó bên hàng lau lả lướt
Khách ngày xưa không trở lại sang sông
Nên mỗi chiều thả thuyền theo bến nước
Ông lái buồn đưa mắt mỏi mòn trông...









* Bài viết mang tính chất tổng hợp và giới thiệu, rất mong được góp ý bổ sung các tư liệu hoàn chỉnh hơn.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

Chương trình hát thơ ẩm thực 2012

Từ ngày 8 - 13 tháng 01 năm 2012 trong khuôn khổ Hội chợ mua sắm cuối năm tại Nhà thi đấu Phú Thọ sẽ diễn ra chương trình Hát thơ, do nhóm Nghệ sĩ Ca trù & Hát thơ Lạc Việt thể hiện.
Các nghệ sĩ biểu diễn trong chương trình Hát thơ năm 2011
Đây là chương trình thường niên được tổ chức, do TS. Nguyễn Nhã - Trưởng nhóm Nghệ sĩ Ca trù & Hát thơ Lạc Việt, Chủ nhiệm Đề án Bếp Việt phụ trách. Chương trình diễn vào lúc 19 giờ đến 21 giờ, với các chủ đề:
- Chủ nhật (08/01/2012): Vinh danh ẩm thực Việt
- Thứ 2 (09/01/2012): Hát thơ Kiều.
- Thứ 3 (10/01/2012): Hát thơ Lục Vân Tiên
- Thứ 4 (11/01/2012): Hát thơ Gia Huấn Ca
- Thứ 5 (12/01/2012): Hát thơ Chinh Phụ Ngâm
- Thứ 6 (13/01/2012): Hát thơ Quốc đạo
Bên cạnh những bài hát quen thuộc như Mời trầu, Người ở đừng về… người nghe còn có dịp thưởng thức những giai điệu mới mẻ do TS. Nguyễn Nhã sáng tác theo từng chủ đề của đêm diễn. Xen giữa chương trình là phần giao lưu giữa nghệ sĩ và những người yêu âm nhạc truyền thống dân tộc. Thông qua chương trình nhóm Nghệ sĩ Ca trù & Hát thơ Lạc Việt muốn thổi hồn vào âm nhạc truyền thống, và kêu gọi mọi người cùng chung tay bảo vệ những nét đẹp một thời của cha anh.
Khán giả chăm chú lắng nghe những làn điệu quê hương
Qua những lần biểu diễn trước, số lượng khán giả tham gia cũng tăng lên theo từng đêm… Nhiều khán giả bùi ngùi khi nghe lại những giai điệu mượt mà của quê hương, họ cảm thấy như tìm lại được những kỉ niệm với quê hương, xứ sở.
Và đây cũng là một việc làm thiết thực để “Giữ hồn dân tộc” của TS. Nguyễn Nhã.

Để biết thêm thông tin chi tiết, quý khách vui lòng liên hệ:
Câu lạc bộ Ca trù & Hát thơ Lạc Việt
Ban Quản lý Đề án Bếp Việt
Số 191/1D Trần Kế Xương, P.7, Quận Phú Nhuận, TP.HCM.

* Đặc biệt: Những cá nhân, tập thể yêu thích hát thơ ẩm thực và âm nhạc truyền thống có thể đăng ký tham gia giao lưu cùng các nghệ sĩ và khán giả tại: http://www.facebook.com/amthuc.net.vn. Hạn chót đăng ký: 24 giờ trước mỗi đêm diễn. Chi tiết liên hệ: 0902 848 163.

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Nghe Thanh Nga hát "Mưa rừng"

Ca khúc “Mưa rừng” là bài hát chính trong vở tuồng cải lương cùng tên của hai soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng, với phần tân nhạc của nhạc sĩ Huỳnh Anh. Sau khi thành công với phiên bản cải lương trên sân khấu và đài phát thanh, hãng phim Alpha chuyển thể vở "Mưa rừng" thành bộ phim màu màn ảnh rộng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1962 với sự tham gia của Kim Cương, Kiều Chinh, Lê Quỳnh, Ngọc Phu. Trong phiên bản này, ca khúc "Mưa rừng" do Thanh Nga và Phương Dung trình bày và phim do Thái Thúc Nha (chủ hãng phim Alpha, sau này là xí nghiệp phim Nguyễn Đình Chiểu) làm đạo diễn.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Một mảnh lịch sử qua bài vọng cổ

Bài này nhằm khảo sát bài hát "Tiếng độc huyền trên Bắc Cần Thơ". Độc huyền ở đây là nói tới đàn bầu của Việt Nam, không phải các loại đàn một dây khác. Tìm hiểu thêm về đàn bầu qua bài viết "Đàn bầu – biểu tượng đặc sắc và độc đáo tâm hồn Việt" của tác giả Thế Văn.

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Nghe Bích Phượng hát "Tự túc"

Bài hát này thuộc thể loại ca khúc quần chúng mang phong cách dân ca của nhạc sĩ Dương Minh Ninh sáng tác năm 1951, một tài năng âm nhạc thời kháng chiếng chống Pháp, quê ở Hội An, công tác tại Tiểu ban Văn nghệ Phòng Chính trị - Bộ Tư lệnh Liên Khu V. Ca khúc được phổ từ bài thơ "Bài ca tự túc" của Lưu Trùng Dương là tác phẩm đã đoạt Giải thưởng Văn học Nam Trung Bộ 1948 và đoạt giải A cuộc thi thơ “Tự túc” cùng năm), sau đó được phổ biến sâu rộng ở Liên Khu V, vào Nam ra Bắc. Cá nhân người viết đã nghe gần như hàng ngày bài hát này trên sóng phát thanh đài Cần Thơ với một giọng nữ trong vắt rất Nam Bộ là nghệ sĩ Bích Phượng, con gái của danh ca Út Trà Ôn.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Chuyện người con gái Nam Xương trong âm nhạc

"Nam Xương nữ tử lục" (Chuyện người con gái Nam Xương, tên gọi khác là "Thiếu phụ Nam Xương") là một kiệt tác trong kho tàng truyện ngắn Việt Nam. Dựa trên sự kiện có thật, được tiểu thuyết hóa qua bút pháp truyền kỳ, truyện trở thành một tác phẩm văn chương đích thực kể về một thân phận người phụ nữ có chồng đi chinh chiến thời xưa và giải thích cho sự hình thành miếu thờ bà Vũ Thị Thiết hay còn gọi là "Miếu vợ chàng Trương" ở trên bờ sông Hoàng Giang, thuộc làng Vũ Điện, huyện Nam Xương (nay là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, Việt Nam).

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Dạ cổ hoài lang: bài ca vua trên sân khấu cải lương Nam Bộ

“Dạ cổ hoài lang vừa mang niềm riêng của tác giả, vừa chất chứa nỗi buồn chung của thời đại vong quốc. Buồn nhưng không bi lụy, nét nhạc lạc quan trỗi lên ở cuối bài khiến bài ca thấm đượm nỗi lòng của điệu buồi ai oán phương Nam, nhưng lại gợi mở một niềm tin về phận nước. Ở đấy, người nghe cảm nhận được nỗi lòng, thấy được mơ ước, khát khao của chính mình. Chính vì vậy, qua bao thế hệ, bao tầng lớp khắp vùng Nam bộ, kẻ sĩ lẫn dân quê từng gõ nhịp hát Dạ cổ hoài lang để nghe tiếng lòng thầm thì, buồn vui và hy vọng”, cảm nhận bài Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sĩ (NS) Cao Văn Lầu ra đời cách đây 91 năm của nhiều người dân Nam bộ là như thế..

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Vài nét về đờn ca tài tử

Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam bộ Việt Nam. Các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đã đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó tiếng đờn giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng. Nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đờn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, thậm chí một số bài bản tuy mang cùng tên mà nét nhạc đã khác xa. Bản chất phóng khoáng của con người và nếp sống tại miền Nam khiến cho các bài bản không còn y khuôn bản gốc ngày xưa. Người đờn người ca không muốn giữ nguyên xi như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt, thay đổi, tô điểm, đưa một chút ta hòa vào trong chúng ta khiến những bài bản đậm đà thấm thía hơn. Mặt khác, do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn nên các điệu các hơi của đờn ca tài tử đều phảng phất nỗi buồn và được người mộ điệu ưa thích.

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Nghe Đan Trường và Cẩm Ly hát "Bông sầu đâu"

Đây là một bài hát tình yêu mang âm hưởng dân ca kể về tình yêu của đôi bạn trẻ lớn lên cùng kỉ niệm với bông hoa sầu đâu, có tên khoa học là Azadirachta indica, sinh trưởng ở khu vực nhiệt đới và bán nhiệt đới. Theo trang bách khoa thư "Lao Non-Timber Forest Products" (tạm dịch: Những sản phẩm không làm từ gỗ rừng Lào) tên gọi "sầu đâu" trong tiếng Việt Nam tương đồng với cách gọi "sadao" của người Thái Lan và "sdau" của người Khmer khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia.


Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Nghe Elvis Phương hát "Rồi có một ngày"

Bài hát "Rồi có một ngày" là một sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Đây là một bài hát có sức lay động mãnh liệt và sống mãi cùng thời gian.

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

Unicorn dance for first day of lunar new year

Every lunar new year, my brother accompany his friends in the unicorn dance team to perform around the township. Below is the footage I took with my brother on February 3, 2011 or the first day of lunar new year, which is known as year of the cat in Vietnam and Vietnamese-speaking communities, and year of the rabbit in China and other Asian countries as well as Chinese-speaking communities around the world. You can enjoy the footage with my voice as narrator. :)



Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Nghe Thu Hương hát "Chú voi con ở bản Đôn"

Bài hát này không chỉ dành cho thiếu nhi về độ tuổi, mà còn dành cho thiếu nhi về tâm hồn.


Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

Nghe trường ca "Người Việt Nam" của Trương Quý Hải

Mới đây, VTV4 giới thiệu với khán giả tác phẩm mới của nhạc sĩ Trương Quý Hải ra mắt nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Trường ca "Người Việt Nam" đã được dàn đại hợp xướng 1309 người của công ty FPT biểu diễn ngày 09/10/2010 vừa qua. Xin giới thiệu cùng quý bạn nhạc và lời tác phẩm trích từ nguồn mạng Quân sự Việt Nam, đã có chỉnh sửa một số lỗi chính tả bỏ dấu.


Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

Nghe Trish Thùy Trang hát "Tôi nhớ tên anh"

Một bài hát vượt thời gian, và không dành cho riêng ai. Thời buổi bây giờ mấy bài như thế này thật là có ý nghĩa, nghe hoài không chán.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...